Thứ Tư, 27 tháng 2, 2013

Các phong cách kiến trúc Hà Nội thời kỳ Pháp thuộc

Sự hiện diện đầu tiên của kiến trúc Pháp ở Hà Nội là từ năm 1803, khi vua Nguyễn Gia Long cho xây lại thành Hà Nội theo kiểu Vauban dưới sự chỉ đạo của 4 kỹ sư công binh Pháp.

Tuy nhiên phải đến khi thành lập khu Nhượng địa năm 1875 ở ven sông Hồng (kéo dài từ phố Phạm Ngũ Lão tới Quân y Viện 108 và bệnh viện Hữu Nghị ngày nay) thì những công trình phong cách kiến trúc Pháp mới thực sự có dấu ấn tại Hà Nội.

Trải qua gần một thế kỷ (cuối thế kỷ 19 tới nửa đầu thế kỷ 20), kiến trúc thời kỳ Pháp thuộc với sự phong phú về phong cách đã để lại cho Hà Nội một di sản kiến trúc quý giá.

Trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập tới những phong cách chủ đạo, để lại những dấu ấn rõ ràng trong kiến trúc thời kỳ này.

1. Phong cách kiến trúc Tiền thực dân

Ảnh 1: Bảo tàng Lịch sử Quân sự (trước đây là Sở chỉ huy quân đội Pháp) 

Phong cách kiến trúc Tiền thực dân ở Hà Nội bắt đầu hình thành từ chính khu Nhượng địa với những ngôi nhà làm việc, nhà ở cho sĩ quan và binh lính Pháp.

Với mong muốn có được những không gian phù hợp với chức năng cần thiết nhưng tránh được cái nóng oi ả mùa hè, các sĩ quan công binh Pháp đã nghĩ ra một hình thức kiến trúc nhiệt đới thô sơ với các hành lang rộng bao lấy không gian chính.

Sau khi chiếm được thành Hà Nội và biến nó thành Sở chỉ huy quân đội Pháp, các sĩ quan công binh cũng xây dựng một loạt công trình trong thành nội cũng như trên trục đường nối khu nhượng địa với Hoàng Thành cũ (nay tuyến phố Tràng Tiền - Tràng Thi - Điện Biên Phủ) và khu vực xung quanh hồ Hoàn Kiếm theo phong cách Tiền thực dân.

Các công trình kiến trúc phong cách Tiền thực dân thường có mặt bằng hình chữ nhật đơn giản có hành lang rộng chạy xung quanh. Nhà thường có hai tầng, sàn tầng hai dùng dầm đỡ thép hình cuốn gạch ở trên. Mái dốc lợp ngói hoặc tôn.

Tường chắn mái xây gạch dùng để trang trí mặt tiền có một vài hình thức tranh trí đơn giản như hàng con tiện hoặc đắp xi măng hình hoa lá. Hành lanh quanh nhà được tạo ra hình thức cuốn vòm hình cung hoặc bán cầu có khoá vòm.

Nhìn chung thì đây là phong cách mang tính công năng duy lý, ít chú trọng về mặt thẩm mỹ nên không có nhiều giá trị về mặt kiến trúc. Tuy vậy chúng cũng là đại diện cho kiến trúc Pháp thuộc thời kỳ sơ khởi nên cũng cần được tôn trọng ở một mức độ nhất định.

Một số công trình tiêu biểu: Bảo tàng Lịch sử Quân sự (ảnh 1), Toà thị chính (chỉ còn toà nhà số 12 Lê Lai), một số nhà điều trị trong khuôn viên Quân y Viện 108 và bệnh viện Hữu Nghị.

Đặc điểm nhận dạng: Nhà 1-3 tầng, mặt bằng hình chữ nhật, mái dốc lợp ngói hoặc tôn, có hành lang bao quanh tạo ra hình thức cuốn vòm liên tục.

2. Phong cách kiến trúc Tân Cổ điển

 Ảnh 2: Phủ Chủ tịch (trước đây là Phủ Toàn quyền Đông Dương)

Sau khi cơ bản chinh phục được toàn bộ lãnh thổ Đông Dương, người Pháp đã tiến hành một công cuộc xây dựng lớn ở Hà Nội nhằm biến nó thành thủ phủ toàn khu vực Đông Dương.

Những công thự lớn tiêu biểu cho chính quyền thực dân như Phủ Toàn quyền, Dinh Thống Sứ, Toà án… được xây dựng. Để biểu đạt cho sự uy nghi của chính quyền mới thì không gì bằng việc sử dụng các hình thức kiến trúc Cổ điển.

Sau này, phong cách Tân-Cổ điển còn ảnh hưởng sang các công trình lớn về kinh tế-văn hoá ở Hà Nội như ga Hàng Cỏ, trụ sở Công ty hoả xa Đông Dương-Vân Nam, Nhà hát Thành phố, Viện Radium Đông Dương… và nhiều biệt thự dành cho người Pháp ở Hà Nội.

Phong cách kiến trúc Tân-Cổ điển ở Hà Nội thời kỳ này không còn là Tân-Cổ điển Pháp thuần tuý nữa mà mang nhiều màu sắc của chủ nghĩa Triết chung. Mặc dù vẫn sử dụng bố cục đối xứng nghiêm ngặt, các cấu trúc hình học và tỷ lệ vẫn được tuân thủ, các thức cổ điển vẫn mang tính áp đảo, song ở nhiều công trình các chi tiết của kiến trúc Phục hưng, Baroque cũng được sử dụng.

Phong cách kiến trúc Tân-Cổ điển là phong cách kiến trúc áp đảo đối với các công trình công cộng lớn ở Hà Nội thời kỳ Pháp thuộc và cũng là phong cách mang dấu ấn mạnh mẽ nhất của kiến trúc thời kỳ này.

Một số công trình tiêu biểu: Phủ Toàn quyền Đông Dương (ảnh 2), Dinh Thống sứ Bắc Kỳ, Phủ Thống sứ (12 Ngô Quyền), Ga Hàng Cỏ, Công ty Hoả xa Đông Dương - Vân Nam (82 Trần Hưng Đạo), Nhà hát lớn, Viện Radium Đông Dương (43 Quán Sứ), khách sạn Metropole (15 Ngô Quyền).

Đặc điểm nhận dạng: Bố cục cân đối, sử dụng nhiều thức cổ điển, mái dốc lợp ngói tây hoặc ngói đá, nhiều hình thức trang trí phong phú sử dụng các thức, chi tiết Cổ điển La Mã, Phục hưng, Baroque.

3. Phong cách kiến trúc địa phương Pháp

 Ảnh 3: Trụ sở Bộ Tư pháp (trước đây là Trường nữ học Pháp)

Từ những năm 1900, một lượng khá lớn người Pháp đã tới Hà Nội làm việc, sinh sống. Họ mang theo những hoài niệm về quê hương thông qua những công trình kiến trúc nơi họ đã sống (chủ yếu là các địa phương miền Bắc nước Pháp và vùng Paris) và do vậy cũng bắt đầu từ thời gian này, một loạt biệt thự, trường học cho người Pháp được xây dựng theo phong cách kiến trúc địa phương Pháp.

Các công trình phong cách địa phương miền Bắc Pháp có mái với độ dốc lớn, các công trình phong cách vùng Paris có độ dốc vừa phải có hệ con sơn gỗ đỡ phần mái nhô ra khỏi tường.

Tuy nhiên cũng phải chú ý rằng kiến trúc phong cách địa phương Pháp xây dựng ở Hà Nội không giống hoàn toàn ở chính quốc mà đã mang nhiều tính công năng, thực dụng và dỡ bỏ nhiều những hình thức trang trí nguyên gốc.

Những công trình phong cách địa phương Pháp ở Hà Nội nhìn chung mang đậm tính hồi cố, duyên dáng, mang nhiều nét kiến trúc các địa phương miền Bắc nước Pháp và vùng Paris, tuy nhiên đã có những biến đổi nhất định để phù hợp với công năng mới và khí hậu nhiệt đời Việt Nam.

Một số công trình tiêu biểu: Grand Lycée AIber Sarraut (1B Hoàng Văn Thụ), Petit Lycée (8 Hai Bà Trưng), Trường nữ học Pháp (58 Trần Phú, ảnh 3) và một số biệt thự tại khu Ngoại giao đoàn.

Đặc điểm nhận dạng: Nhà 2-3 tầng, mái dốc lợp ngói, có hệ con sơn đỡ mái bằng gỗ mảnh hình tam giác được tiện khắc công phu, hoạ tiết trang trí không nhiều nhưng khá tinh tế.

4. Phong cách kiến trúc Art Deco

 Ảnh 4: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (trước đây là Chi nhánh ngân hàng Đông Dương)

Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, các hoạt động kinh tế trở nên nhộn nhịp hơn, một làn sóng đầu tư của người Pháp, một phần nhỏ của người Hoa và người Việt diễn ra ở Hà Nội.

Một loạt trụ sở ngân hàng, công ty và nhiều biệt thự tư nhân được xây dựng. Vì đây là các hoạt động đầu tư tư nhân nên chủ nhân của chúng cũng không cần nhờ tới các kiến trúc sư “cung đình” như A-H. Vildieu nữa.

Các kiến trúc sư có đầu óc cách tân hơn được trọng dụng và từ đó một phong cách thiết kế hiện đại, giản dị và thực dụng, phù hợp với xu hướng kiến trúc đang phát triển ở Tây Âu và Bắc Mỹ thời bấy giờ, phong cách Art Deco, được ứng dụng trong thiết kế nhiều công trình ở Hà Nội.

Kiến trúc Art Deco bắt đầu phát triển ở Hà Nội từ những năm 1920 và đặc biệt mạnh mẽ vào những năm 1930. Những công trình xây dựng theo xu hướng này thường sử dụng những hình khối kinh điển trong bố cục không gian, các khối vuông, chữ nhật kết hợp với các khối bán trụ tạo ra một hình thức kiến trúc hiện đại và giản dị.

Thêm vào đó là các hoạ tiết trang trí bằng thép uốn hoặc đắp nổi bằng xi măng, thạch cao với đường nét mềm mại làm giảm bớt sự thô nặng của các khối chủ đạo. Đây cũng là hình loại kiến trúc được nghiên cứu và có nhiều sự cải biên nhằm tới sự hài hoà với khí hậu và cảnh quan Hà Nội.

Một số công trình tiêu biểu: Chi nhánh ngân hành Đông Dương (ảnh 4), nhà in IDEO (24 Tràng Tiền), công ty AVIA (39 Trần Hưng Đạo), Bưu điện (6 Đinh Lễ), các toà nhà số 91 Đinh Tiên Hoàng và 31 Tràng Tiền, cùng rất nhiều biệt thự trải từ quận Ba Đình tới cuối các phố Bà Triệu, Hàng Chuối.

Đặc điểm nhận dạng: Hình khối giản dị mang tính hiện đại, đại đa số là mái bằng, sử dụng với liều lượng vừa phải các hoạ tiết trang trí trên mặt đứng.

5. Phong cách kiến trúc Đông Dương

 Ảnh 5: Trụ sở Bộ Ngoại giao (trước đây là Sở Tài chính Đông Dương)

Thập kỷ 1920 ở Hà Nội, sau khi một loạt công trình đại diện cho chính quyền thực dân theo phong cách Tân Cổ điển được xây dựng và đưa vào sử dụng cho thấy chúng hoàn toàn không phù hợp với khí hậu cũng như truyền thống thẩm mỹ và cảnh quan ở đây.

Bản thân giới trí thức Pháp ở thuộc địa cũng nhận ra việc áp đặt những giá trị văn hoá từ chính quốc vào một đô thị bản địa có truyền thống văn hoá lâu đời và rất khó chấp nhận.

Do vậy việc tìm tòi một phong cách kiến trúc vừa có khả năng đáp ứng công năng hiện đại, vừa phù hợp với khí hậu, cảnh quan và truyền thống văn hoá địa phương được một loạt kiến trúc sư người Pháp và sau đó là người Việt theo đuổi, từ đó tạo ra một phong cách kiến trúc kết hợp sau này được gọi là phong cách kiến trúc Đông Dương.

Kiến trúc theo phong cách Đông Dương là những công trình có cấu trúc mặt bằng, hình khối hoàn toàn theo kiểu Pháp thịnh hành lúc bấy giờ, nhưng đã có sự tìm tòi, biến đổi về mặt không gian và cấu tạo kiến trúc nhằm tạo ra những công trình có khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu, cảnh quan cũng như truyền thống văn hoá bản địa.

Các kiến trúc sư theo phong cách này thường sử dụng những hình thức và chi tiết kiến trúc truyền thống Việt Nam, Khmer trong việc tạo nên các bộ mái, ô văng che cửa, cùng các hoạ tiết trang trí khác.

Nhìn chung đây là phong cách thành công nhất trong việc tạo ra những công trình kiến trúc đẹp, hiện đại, phù hợp với khí hậu, cảnh quan và văn hoá truyền thống bản địa thời kỳ Pháp thuộc.

Một số công trình tiêu biểu: Toà nhà chính Đại học Đông Dương (19 Lê Thánh Tông), Sở Tài chính (ảnh 5), Bảo tàng Louis Finot (*) (1 Phạm Ngũ Lão), Viện Pasteur (1 Y-éc-xanh), Nhà thờ Cửa Bắc, Câu lạc bộ thuỷ quân (36 Trần Phú).

Đặc điểm nhận dạng: Bố cục mặt bằng hình khồi đăng đối kiểu Châu Âu kinh điển. Sử dụng nhiều thức cột, mái và các chi tiết kiến trúc cổ truyền Việt Nam và Khmer, hệ thống cửa lấy ánh sáng và thông gió tự nhiên được chú trọng.

6. Phong cách kiến trúc Pháp - Hoa

 Ảnh 6: Dinh thự số 26 Phan Bội Châu

Kiến trúc phong cách Pháp-Hoa có lẽ cũng xuất phát từ ý tưởng muốn xây dựng những công trình đáp ứng được công năng hiện đại nhưng vẫn mang màu sắc kiến trúc Á Đông.

Tuy nhiên, khác với các kiến trúc theo phong cách Đông Dương, sử dụng đa phần cách thức kiến trúc, các yếu tố trang trí Việt Nam và Khmer, các tác giả của các công trình Pháp-Hoa lại hầu như sử dụng cách thức và yếu tố trang trí cổ điển Trung Hoa.

Kiến trúc phong cách Pháp-Hoa ở Hà nội thể hiện chủ yếu trong các dinh thự và biệt thự. Các ngôi nhà theo phong cách này thường chỉ có 2 tầng với cách bố trí tổng mặt bằng theo kiểu nhà chính - nhà phụ, đặc biệt ở các dinh thự thường có vườn trước rất lớn có bố trí non bộ.

Mái dốc lợp ngói ống, ngói tráng men, bốn góc uốn cong và được trang trí khá cầu kỳ, con sơn đỡ mái dạng trồng đấu nhiếu lớp. Ở một số công trình có hệ thống cột tròn với các tai cột ngang. Phần trang trí được chú trọng nhiều với các yếu tố trang trí kiểu Trung Hoa cổ.

Ở các công trình theo phong cách Pháp - Hoa ít thấy những giải pháp lấy ánh sáng hay thông gió tự nhiên phù hợp với khí hậu Hà Nội.

Một số công trình tiêu biểu: Dinh Tổng đốc Hoàng Trọng Phu (46 Hoàng Diệu), dinh thự số 26 Phan Bội Châu (ảnh 6), Nhà hàng Thuỷ Tạ, một số biệt thự trên các phố Phan Đình Phùng, Quán Thánh, và quanh hồ Thuyền Quang.

Đặc điểm nhận dạng: Nhà chính 2 tầng, mái dốc lợp ngói ống hoặc ngói tráng men, trang trí cầu kỳ, sử dụng nhiều thức và chi tiết kiến trúc cổ điển Trung Hoa.

7. Phong cách kiến trúc Neo-Gothic

Ảnh 7: Nhà thờ Làng Tám 

Phong cách mà chúng tôi gọi là Neo-Gothic với ý nghĩa mong muốn phục hồi Gothic của những người thiết kế gắn liền với quá trình xây dựng các nhà thờ Công giáo ở Hà Nội.

Năm 1883, lấy cớ chùa Báo Thiên đã cũ nát và ở trong tình trạng nguy hiểm, Tổng đốc Hà Nội Nguyễn Hữu Độ đã ra lệnh phá huỷ ngôi chùa, khu đất của nhà chùa được Công sứ M.Bonal nhượng lại cho Hội truyền giáo.

Trên khu đất này, giám mục Puginier với tư cách là người thiết kế và chỉ đạo thi công, đã xây dựng nhà thờ Saint Joseph còn gọi là Nhà thờ lớn, hoàn thành năm 1888. Cùng với sự xâm nhập của đạo Thiên Chúa, rất nhiều nhà thờ lớn nhỏ cũng đựơc xây dựng ở các xứ đạo nội, ngoại thành Hà Nội trong thời gian sau đó.

Đặc điểm của kiến trúc nhà thờ ở Hà Nội đa phần là mô phỏng hình thức kiến trúc Gothic Pháp nhưng được giản lược rất nhiều. Đó là cách tổ chức mặt bằng hình chữ thập, mặt đứng ba nhịp, nhịp giữa là lối vào chính, phía trên có cửa sổ “hoa hồng”, hai bên là các lối vào phụ phía trên là tháp chuông.

Tuy nhiên, khác với các nhà thờ Gothic Pháp sử dụng rất nhiều yếu tố trang trí, kiến trúc nhà thờ Hà Nội chỉ tổ chức nhiều cửa sổ hình cuốn nhọn kiểu Gothic mà hầu như không thêm vào các yếu tố trang trí nên trông khá khô khan.

Trong số các công trình Neo-Gothic ở Hà Nội nổi lên một ngôi nhà thờ nhỏ ở quận Hoàng Mai, nhà thờ Làng Tám, kiến trúc nhà thờ này mang nhiều thần thái Gothic Pháp với một tỷ lệ khá hài hoà trên mặt đứng, kết hợp với nhiều hoạ tiết trang trí theo phong cách Gothic dù còn chưa tinh tế.

Nhìn chung thì phong cách Neo - Gothic ở Hà Nội gắn liền với kiến trúc nhà thờ Công giáo, giá trị về mặt thẩm mỹ chưa cao song lại mang nhiều giá trị về mặt lịch sử và cảnh quan.

Một số công trình tiêu biểu: Nhà thờ lớn Hà Nội, nhà thờ Làng Tám (ảnh 7), nhà thờ Hàm Long (Gothic Anh).

Đặc điểm nhận dạng: Mặt đứng ba nhịp với ba cửa vào, phần trung tâm thấp hơn có cửa sổ “hoa hồng”, hai tháp cao ở hai bên. Bố trí nhiều cửa sổ cuốn nhọn kiểu Gothic, kính màu được sử dụng rộng rãi.

Chú thích
   (*) Bảo tàng Lonis Finot do KTS Ernest Hébrard thiết kế, mặc dù có đưa vào một số thức và yếu tố kiến trúc Trung Hoa cổ nhưng đa phần vẫn là các thức, chi tiết Việt và Khmer cổ, phong cách chủ đạo vẫn là Phong cách Đông Dương.

Thứ Hai, 25 tháng 2, 2013

Đám giỗ


Theo phong tục tập quán lâu đời, dân ta lấy ngày giỗ (ngày mất) làm trọng, cho nên vào ngày đó, ngoài việc đi thăm mộ phần, tuỳ vào gia cảnh và tuỳ vị trí người đã khuất mà cúng giỗ. Ðây cũng là dịp họp mặt người thân trong gia đình trong dòng họ, họp mặt để tưởng nhớ người đã khuất và nhắc nhở việc người còn sống phải giữ gìn gia phong.
Vào dịp đó người nhà thường tổ chức ăn uống, nên mới được gọi là ăn giỗ, thì cũng là cúng trước ăn sau, cũng là để cho cuộc gặp mặt thêm đậm đà ấm cúng, kéo dài thời gian sum họp để kể chuyện tâm tình, bàn chuyện làm ăn. Với ý nghĩa "Uống nước nhớ nguồn" đám giỗ có thể xếp vào loại thuần phong mỹ tục.


Ngày cúng giỗ
Ngày giỗ theo âm Hán tự là kỵ nhật hay huý nhật, tức là lễ kỷ niệm ngày mất của tổ tiên, ông bà, cha mẹ, cũng có nghĩa là ngày phải kiêng kỵ.
Nguyên là vào ngày trước, "Lễ giỗ" được gọi là "Lễ chính kỵ"; chiều hôm trước khi diễn ra lễ chính kỵ có "lễ tiên thường" (nghĩa là nếm trước), con cháu sẽ sắm sửa một ít lễ vật, dâng lên mời gia tiên nếm trước.
Ngày xưa, những nhà giàu có còn mời bà con làng xóm ăn giỗ cả hai lễ tiên thường và chính kỵ. Dần dần hoặc vì có việc bận hoặc vì kinh tế khó khăn hoặc vì thiếu người phục dịch, người ta giản lược đi bớt, chỉ mời khách một lần thôi nhưng hương hoa, trầu rượu vẫn cúng đủ cả hai lễ. Tóm lại, nếu ta vận dụng đúng phong tục cổ truyền phổ biến trong cả nước thì trước ngày chết (lễ tiên thường) phải cúng vào buổi chiều, cúng đúng ngày chết (lễ chính kỵ) phải cúng và buổi sáng.
Mấy đời tống giỗ
Theo như gia lễ: "Ngũ đại mai thần chủ" hễ đến đời thứ năm thì lại đem chôn thần chủ của cao tổ đi mà nhấc lần tằng tổ khảo lên bậc trên rồi đem ông mới mất thế vào thần chủ ông khảo.
Theo nghĩa cửu tộc (9 đời): Cao, tằng, tổ, phụ (4 đời trên), thân mình và tử, tôn, tằng tôn, huyền tôn (4 đời dưới mình). Như vậy chỉ có 4 đời làm giỗ (cao, tằng, tổ, phụ) tức là kỵ (hay can), cụ (hay cố), ông bà và cha mẹ. Từ "Cao" trở lên gọi chung là tiên tổ thì không cần cúng giỗ nữa mà nhập chung vào kỳ xuân tế, hoặc phụ tế vào ngày giỗ của thuỷ tổ.
Cúng giỗ người chết yểu
Những người khi đã đến tuổi thành thân, thành nhân nhưng lúc chết chưa có vợ hoặc mới có con gái mà chưa có con trai hoặc đã có con trai nhưng con trai cũng chết sẽ trở thành phạp tự (không có con trai nối dõi). Những người đó cũng có cúng giỗ. Người lo việc giỗ chạp là người cháu (con trai của anh hoặc anh ruột) được lập làm thừa tự. Người cháu thừa tự được sẽ hưởng một phần hay toàn bộ gia tài của người đã khuất. Sau khi người thừa tự mất thì con cháu người thừa tự đó lại tiếp tự.
Những người còn chưa đến tuổi thành thân (dưới 16 hoặc dưới 18 tuổi, tuỳ theo tập tục mỗi địa phương) sau khi hết lễ tang sẽ yết cáo với tổ tiên xin phụ thờ với tiên tổ. Những người đó theo tục không có lễ giỗ riêng, ai cúng giỗ thì chỉ là ngoại lệ. Có những gia đình bữa nào cũng xới thêm một chén cơm, một đôi đũa đặt bên cạnh mâm cơm coi như người thân vẫn còn sống trong gia đình. Ðiều này không có trong gia lễ nhưng lại thuộc về tâm linh, thể hiện niềm nhớ thương đối với thân nhân đã khuất.

Những Di sản thế giới hùng vĩ ở Châu Á


Di sản thế giới là những công trình mang đậm dấu ấn lịch sử của từng quốc gia và là những điểm đến vô cùng thú vị
Đảo Yakushima, Nhật Bản
Là một hòn đảo có hình ngũ giác kỳ lạ nằm ở phía nam Kyushu, Nhật Bản. Xung quanh hòn đảo là một rừng cây dày đặc, trải dài bao quanh đảo với hàng cây thông liễu đặc trưng lâu năm (ở Nhật gọi là Sugi) và hệ động thực vật phong phú. Khu rừng cổ ôn đới độc đáo này ở đảo Yakushima đã được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới.
Ở đảo Yakushima còn có ngọn núi Miyanouradake, đỉnh núi cao nhất Kyushu, nơi đây là điểm du lịch nổi tiếng cho hoạt động trekking và leo núi. Vào mùa đông, những hoa dâm bụt nở rực rỡ trên ngọn núi phủ tuyết trắng xóa là một cảnh tượng tuyệt đẹp ở đảo, thu hút rất nhiều du khách đến tham quan.

Meda'in Saleh, Ả-Rập Saudi
Di chỉ khảo cổ Meda'in Saleh ở Ả Rập Saudi đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới vào năm 2008. Di chỉ này nằm ở thành phố Nabataean cách khoảng 320 km về phía nam của Petra. Ở đây có 131 ngôi mộ trải rộng trên 13,4 km, trên nhiều ngôi mộ có chữ khắc mô tả người đã xây dựng ngôi mộ, những người được chôn cất ở đó và những người có thể sử dụng ngôi mộ. Do việc nhập cảnh vào Ả Rập Saudi khó khăn vô cùng nên đây thực sự là một di tích mà rất nhiều du khách muốn khám phá.
Persepolis, Iran
Persepolis là kinh đô nghi lễ của Đế quốc Ba Tư dưới thời Achaemenes, được thành lập bởi vua Darius vào khoảng 515 năm trước Công nguyên. Persepolis nằm cách 70 km về phía đông bắc của thành phố Shiraz thuộc tỉnh Fars của Iran hiện đại. Đối với người Ba Tư cổ đại, thành phố đã được biết đến với tên gọi Pārsa, có nghĩa là "Thành phố của Ba Tư". Di tích khảo cổ này được UNESCO tuyên bố là di sản thế giới vào năm 1979.
Hampi, Ấn Độ
Là cố đô của đế chế Vijayanagara, Hampi vẫn còn là một trung tâm tôn giáo quan trọng và các di tích kiến trúc của Hampi đã được UNESSCO công nhận là Di sản thế giới.
Khu di tích Hampi vãn còn sót lại khá nhiều vết  tích của những đền đài, tầng hầm cung điện, tháp và các đền thờ hay những tàn tích cổ xưa của các khu buôn bán, phố xá ngày xưa, tất cả đều mang một vẻ đẹp rực rỡ, kỳ bí với nhiều sự tích huyền thoại. Khung cảnh nơi đây cũng chính là bối cảnh trong bộ phim nổi tiếng Endless Love của Thành Long.

Thứ Sáu, 22 tháng 2, 2013

Top 20 Famous Castles and Palaces in the World


Angkor Wat Temple
Location: Angkor, Cambodia on the map
When built: 1150; Height: 30м; Square size: 820.000 m2
Neuschwanstein Castle
Location: Bavaria, Germany on the map
When built: 1837; Height: 90м; Square size: 6.000 m2
Arge Bam Castle
Location: Bam, Iran on the map
When built: 500 BC; Height: 20м; Square size: 180.000 m2
Pena National Palace
Location: Sintra, Portugal on the map
When built: 1854; Height: X м; Square size: 200.000 m2
Ashford Castle
Location: Cong, Galway, Ireland on the map
When built: 1228; Height: X м; Square size: X m2
Bran Dracula Castle
Location: Brasov, Romania on the map
When built: 1377; Height: X м; Square size: X m2
Fort San Felipe del Morro
Location: San Juan, Puerto Rico on the map
When built: 1589; Height: X м; Square size: X m2
Casa Loma Palace
Location: Toronto, Canada on the map
When built: 1914; Height: 55 м; Square size: 280.000 m2
Castle Zaman
Location: Nuweiba, Sinai, Egypt on the map
When built: 2004; Height: X м; Square size: X m2
Hohenwerfen Castle
Location: Salzburg, Austria on the map
When built: 1078; Height: X м; Square size: X m2
Chateau de Chenonceau Castle
Location: Chenonceaux, France on the map
When built: 1411; Height: 56 м; Square size: 12000 m2
Edinburgh Castle-Fortress
Location: Edinburgh, Scotland on the map
When built: ~1200; Height: 90+ м; Square size: 35737 m2
Château Frontenac Castle
Location: Quebec, Canada on the map
When built: 1893; Height: 99 м; Square size: 109.300 m2
Himeji Castle
Location: Himeji, Japan on the map
When built: 1333; Height: 47 м; Square size: 2.330.000 m2
Krak des Chevaliers Castle-Fortress
Location: Tartus, Syria on the map
When built: 1031; Height: X м; Square size: 3.000 m2
Miramare Castle
Location: Trieste, Italy on the map
When built: 1850; Height: X м; Square size: X m2
Peles Castle
Location: Sinaia, Romania on the map
When built: 1883; Height: 66 м; Square size: 3.200 m2
Prague Castle
Location: Prague, Czechia on the map
When built: 870; Height: 216 м; Square size: 70.000 m2
Stollmeyers Castle
Location: Port of Spain, Trinidad on the map
When built: 1940; Height: X м; Square size: X m2
Vajdahunyad Castle
Location: Budapest, Hungary on the map
When built: 1908; Height: 95 м; Square size: X m2

Top 15 Spectacular Bridges and Viaducts in the World


Banpo Bridge
Location: Seoul, South Korea on the map
When built: 2009; Height: Xм; Length: 1.140m
Helix Bridge
Location: Singapore on the map
When built: 2010; Height: Xм; Length: 280m
Akashi Kaikyo Bridge
Location: Kobe, Japan on the map
When built: 1998; Height: 298м; Length: 1.991m
Erasmusbrug / Erasmus Bridge
Location: Rotterdam, Netherlands on the map
When built: 1996; Height: 139м; Length: 832m
Hangzhou Bay Bridge
Location: Hangzhou, China on the map
When built: 2007; Height: Xм; Length: 35.673m !
Copenhagen Harbour Bridge
Location: Copenhagen, Denmark
When built: 2020+; Height: Xм; Length: Xm
Henderson Wave Bridge
Location: Singapore on the map
When built: 2006; Height: 36м; Length: 274m
Hoover Dam Bypass
Location: Las Vegas, USA on the map
When built: 2010; Height: 300м; Length: 600m
Kurilpa Bridge
Location: Brisbane, Australia on the map
When built: 2009; Height: Xм; Length: 470m
Millau Viaduct
Location: Millau, France on the map
When built: 2004; Height: 343м; Length: 2.460m
Octavio Frias de Oliveira Bridge
Location: Sao Paulo, Brasil on the map
When built: 2008; Height: 138м; Length: 290m
Ponte Vecchio Bridge
Location: Florence, Italy on the map
When built: 1345; Height: 4м; Length: 90m
Sheikh Rashid bin Saeed Crossing
Location: Dubai, Emirates
When built: 2012; Height: 15м; Length: 1.600m
Sheikh Zayed Bridge
Location: Dubai, Emirates on the map
When built: 2010; Height: 63м; Length: 842m
Tower Bridge
Location: London, England on the map
When built: 1894; Height: 65м; Length: 244m