Thứ Ba, 26 tháng 11, 2013

Hòn Vọng Phu

Hòn Vọng Phu ở Lạng Sơn:
Ðồng Ðăng có phố Kỳ Lừa,
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh…
Nằm trong quẩn thể di tích động Tam Thanh, Lạng Sơn có núi Vọng Phu. Trên sườn núi trên cao có khối đá hình người đàn bà ôm con mãi nhìn về phương xa… Từ xưa, khối đá này đã gắn với truyền thuyết về một người thiếu phụ chung thuỷ bồng con lên núi chờ chồng. Chờ mãi không thấy chồng về, cả hai mẹ con cùng hoá đá… Chuyện kể rằng: Ngày xưa ở trấn Kinh Bắc có một người đàn bà góa chồng từ sớm, ngày ngày đi mò cua bắt ốc để nuôi hai con: Tô Văn và Tô Thị. Một hôm trong khi mẹ ra đồng, đứa anh đùa nghịch, ném đá  trúng phải đầu em gái, máu ra lênh láng. Tưởng em chết, anh sợ quá bỏ trốn. May mắn làm sao, Tô Thị được xóm giềng cứu cấp hồi tỉnh – còn anh trai là Tô Văn thì trốn biệt, nhiều năm sau vẫn không thấy trở về.  Nhớ con, người mẹ ngày một héo hon rồi qua đời, bỏ lại Tô Thị, được một gia đình đem về  Kỳ Lừa nuôi nấng. Lúc đã lớn, cha mẹ nuôi cho nàng mở một hàng nem … Rồi bỗng đâu từ phương xa có một chàng thanh niên đến; chàng trai ấy chính là Tô Văn nhưng qua nhiều năm xa cách, cả hai đều không nhận ra nhau. Họ yêu nhau tha thiết rồi kết thành chồng vợ. Một năm qua, Tô Thị sinh được một gái. Gia đình đang êm ấm…bỗng một hôm, lúc chải tóc, người chồng chợt nhìn thấy vết sẹo trên đầu vợ… Tô Thị tỉ mỉ kể lại câu chuyện ngày xưa cho chồng nghe. Nghe xong chàng cháy cả ruột gan… Càng đau đớn,  xót xa chàng lại càng không muốn cho vợ mình hay biết. Giữa những tháng ngày dằn vặt đau khổ cùng cực ấy bỗng có lệnh quan trên bắt lính thú. Tô Văn ngầm đăng lính; ngày tiễn biệt Tô Thị khóc thảm thiết. Rồi từ đó ngày ngày nàng bồng con lên núi chờ chồng. Nhiều năm tháng trôi qua trong tuyệt vọng, Tô Thị hóa thành tượng đá trơ trơ trên mỏm cao chót vót và mãi đến nay nàng vẫn bế con đứng đăm đăm nhìn về hướng chồng đi… (1)
Hòn Vọng Phu trong truyền thuyết Việt Nam là hình tượng người thiếu phụ có chồng đi chinh chiến, ngày ngày bồng con ngóng đợi chồng về, đợi mãi đến hóa thành tượng đá trơ gan cùng tuế nguyệt (!). Ngay tại trung tâm thị xã Lạng Sơn cũng có một “vọng phu” như thế, nằm gần núi Tam Thanh và được gọi là núi Tô Thị.
Câu chuyện về nàng Tô Thị đã được thi vị hóa, trở thành một hình tượng nghệ thuật khơi gợi trí tưởng tượng của nhiều thế hệ nghệ sĩ, trong đó có những bậc danh Nho tên tuổi như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du… với những bài đề vịnh bất hủ. Không dừng lại ở đó, nàng Tô Thị xứ Lạng còn xuất hiện trong hội hè và trở thành tín ngưỡng thờ cúng của nhân dân không chỉ riêng ở Lạng Sơn mà còn ở nhiều địa phương trong cả nước. Với một vị trí thuận tiện, lại ở vào nơi đã từng là “đầu sóng ngọn gió”, vọng phu Tô Thị tạo được nhiều ấn tượng và sống lâu trong tâm thức người Việt âu cũng là điều dễ hiểu.
Ấy vậy mà, đã có lúc đám phàm phu với những toan tính thiển cận, chỉ vì muốn lấy đá làm vôi đã dám mổ thịt phanh thây nàng Tô Thị. Thật may là trước những phản ứng của dư luận, người ta đã kịp thu gom phục chế để nàng Tô Thị được hoàn sinh, trả lại cho đời một “linh hồn tượng đá” sống mãi với thời gian.
NÀNG TÔ THỊ NHÂN TẠO ĐƯỢV XÂY BẰNG XI MĂNG
https://lh3.googleusercontent.com/-P7JDFizZbZY/TuwcJRERZcI/AAAAAAAAIM0/JsoyW9T0v30/s800/VongPhu.jpg

http://i622.photobucket.com/albums/tt307/bazai45/IMG_0141.jpg

Hòn Vọng Phu ở Thanh Hóa: Ở Thanh Hoá có núi Nhồi, ngày xưa gọi là núi Khế, thuộc thôn Nhuệ (Nhuệ Sơn), nay là xã Đông Hưng huyện Đông Sơn, cách thành phố Thanh Hóa khoảng 3 cây số về phía tây nam, chu vi chừng 4.000 mét. Núi này được cư dân ở đây gọi là núi Vọng phu. Trên đỉnh có tảng đá sừng sững giống hình một người đàn bà cùng hai đứa con nhỏ đang đứng trông ra biển. Truyền thuyết của Hòn Vọng Phu trên núi Nhồi ít nhiều khác với các truyền thuyết khác, chỉ kể lại câu chuyện người vợ nhớ chồng đi chinh chiến, ngày ngày dắt hai con lên núi nhìn về phương xa. Trông ngóng mỏi mòn, dần dần cả ba mẹ con cùng hóa đá…


 Hòn Vọng Phu ở Nghệ An: Cạnh dòng Nậm Giải, Quế Phong, Nghệ An có một khối đá trắng lớn có dáng mẹ bồng con hướng mặt nhìn ra dòng nước. Người Thái ở đây vẫn gọi là hòn Vọng Phu.  Chuyện tình vùng dân tộc này mang màu sắc thần kì: nhân vật là một chàng trai chốn thuỷ cung đã yêu một thiếu nữ trần thế. Chàng vốn là con của Long Vương, trốn vua cha lên trần gian chơi hội Xuân. Ở đây, chàng đã gặp một người con gái Thái hết sức xinh đẹp; chàng mê mẩn quên cả lối về…Họ yêu nhau say đắm rồi kết làm vợ chồng …chung sống với nhau hạnh phúc bên đứa con thơ . Ngày ngày chàng lên rừng săn muông thú, xuống suối bắt cá tôm… vợ ở nhà chăm con, dệt vải quay tơ.  Rồi một ngày kia, Long Vương cho quân lên tìm bắt con trai về trị tội. Không dám chống lệnh cha, chàng từ biệt vợ con về thủy cung… rồi từ đó đi biền biệt, không trở lại… Nhớ chồng tha thiết, hàng ngày nàng lại bồng con ra bến nước nơi người chồng ra đi để trầm tư ngồi trông ngóng bóng chồng. Mỏi mắt trông chờ trong tuyệt vọng. Một ngày kia, trời đổ mưa tầm tã, sấm chớp lòe sáng rực trời. Lúc trời quang mây tạnh, bên bến nước, mẹ con người thiếu phụ chờ chồng đã hóa đá, dưới chân đá là những dây leo chằng chịt. Truyện tình của đôi vợ chồng chờ nhau trọn kiếp đã thành truyền thuyết. Nay người Thái ở Nậm Giải hàng năm vẫn dâng lễ vật tưởng nhớ một cuộc tình bi đát. Họ cùng nhau mang những tấm vải nhiều màu sặc sỡ cùng những cuộn tơ vàng phơi lên các tảng đá chung quanh và kể cho nhau nghe chuyện đá Vọng Phu của nghìn năm trước…
 http://1.bp.blogspot.com/-OJh7UYb4nVo/ToUrzQv-ePI/AAAAAAAANzQ/eDAdz9YXZcU/s1600/1269161921honvongphuso2.jpg
Hòn Vọng Phu ở Quảng Nam: Ở Quảng Nam-Đà Nẵng có “Đá Bà Rầu” cũng là hòn Vọng Phu. Câu chuyện lưu truyền về pho tượng đá có hình người đàn bà này có khác với những truyền thuyết Vọng Phu trên cả nước: Người vợ có chồng đi buôn xa, ngày ngày nàng ra bờ sông mòn mỏi trông chồng. Ngày lại ngày qua, nàng vẫn hi vọng… và cuối cùng chàng trở về nhưng hạnh phúc đã không đến mà lại vỡ tan cùng với bao nhiêu nghi ngờ, ghen tuông…; chồng nàng lại bỏ nhà ra đi. Nàng buồn rầu ra cửa biển, đau thương rồi biến thành khối đá sầu muộn. Bên cạnh tượng đá nay còn có một ngọn tháp, gọi là Tháp Bà Rầu.


Hòn Vọng Phu ở Tuy Hòa: Tuy Hòa có núi Đá Chồng (Đá Bia; Thạch Bi Sơn), thuộc xã Hòa Xuân Nam, huyện Đông Hòa. Cư dân trong vùng gọi đây là núi Vọng Phu. Núi cao 706 m nằm cạnh quốc lộ 1A thuộc dãy Đèo Cả, là một nhánh của dãy Trường Sơn chạy ra sát biển, chân núi phía nam giáp Vũng Rô. Trên đỉnh có tảng đá lớn mọc dựng đứng, trông tựa hình người đàn bà. Dân địa phương cũng truyền tụng sự tích Vọng Phu.

Núi đá Bia ( Đèo Cả )còn gọi là Hòn Vọng Phu miền Trung

http://3.bp.blogspot.com/-GTs7yQZAFCo/T9hScdGlbMI/AAAAAAAAM0w/Dw-MiwPFQ8g/s1600/DSC_0212_4288x2848.JPG






http://pystravel.com/upload/medialibrary/5e5/5e5b6c32d5229fcd2d50740b5f526d7e.JPG

http://static.panoramio.com/photos/large/58335557.jpg










KINH DƯƠNG VƯƠNG LÀ THỦY TỔ NGƯỜI VIỆT NAM

Trong bài viết “Kinh Dương Vương – ngài lài ai?”* đăng trên tạp chí Tia sáng, Tiến sĩ Trần Trọng Dương cho rằng:  “(Kinh Dương Vương) chỉ là ảo ảnh diễn hóa từ nhân vật Kinh Xuyên trong tiểu thuyết truyền kỳ của Trung Quốc.” Bài viết dẫn nhiều tài liệu tham khảo với chứng lý chặt chẽ, khiến cho những học giả Hán Nôm dù chữ nghĩa cùng mình ứ cũng khó phản bác.  Chắc chắn không ít người sẽ tin theo tác giả!
Tuy nhiên, chỉ trong câu ngắn dẫn trên, sự nông cạn hàm hồ của vị tiến sĩ đã bộc lộ. Thứ nhất, tuy xuất hiện lần đầu trong Đường kỷ nhưng câu chuyện về Liễu Nghị không phải là sáng tác của đời Đường mà là một truyền thuyết dân gian. Truyền thuyết, như ta biết, là “ánh xạ của những sự kiện có ý nghĩa lớn của quá khứ, được ghi lại trong ký ức cộng đồng rồi lưu truyền trong dân gian.” Cố nhiên, trong khi được kể lại qua truyền miệng, truyền thuyết sẽ có những dị bản với sai khác ít nhiều về tên nhân vật, về địa danh hoặc một số tình tiết… Tới lúc nào đó,  người ta sử dụng nó vào những mục đích khác nhau: nhà văn chế tác thành tiểu thuyết, người viết sử phục dựng sự kiện xảy ra trong quá khứ…
Tại sao Tiến sĩ không nói “Ngô Sĩ Liên lấy từ truyền thuyết dân gian” mà lại nói lấy từ tiểu thuyết truyền kỳ của Trung Quốc? Giữa truyền thuyết dân giantiểu thuyết truyền kỳ khác nhau một trời một vực! Phài chăng một thủ thuật đánh tráo khái niệm? Sự dẫn sai nguồn, lập lờ này làm mất tính chính danh của sử gia, làm giảm lòng tin vào sử sách!
Càng hàm hồ hơn khi tác giả cho truyện Kinh Dương Vương vào cùng một bị “tiểu thuyết truyền kỳ Trung Quốc!” Có đúng truyền thuyết đó của Trung Quốc?  Sai lầm chết người! Có lẽ nào tác giả không biết rằng, vùng Lĩnh Nam vốn là Xích Quỷ, Văn Lang của người Việt? Cho tới thời Tam Quốc, nơi này vẫn chưa là đất Hán. Có chuyện rằng, để đánh Lưu Bị, Tào Tháo nhờ Hứa Tịnh do thám tình hình Giang Nam. Trong thư trả lời Tào Tháo, Hứa Tịnh viết rằng: Ông “đã đi từ Hội Kế (Cối Kê – Hàn Châu ngày nay), qua Giao Châu, Đông Âu, Mân Việt, cả vạn dặm mà không thấy đất Hán.” (从会稽“南至交州,经历东瓯、
闽越之国,行经万里,不见汉地 – Từ Hội Kế nam chí Giao Châu, kinh lịch Đông Âu, Mân Việt chi quốc, hành kinh vạn lý, bất kiến Hán địa.) Như vậy, tuy thuộc Hán nhưng suốt vùng Giang Nam vẫn là đất Việt! Thập niên 1950, sau khi làm chủ Trung Hoa, nhà cầm quyền Trung Quốc phải bỏ nhiều công sức đồng hóa khối dân Việt ở đây vì họ vẫn theo phong tục và nói tiếng Việt. Chỉ tới sau năm 1958, tiếng phổ thông mới được dùng rộng rãi. Vậy thì, nói đúng ra, dân cư khu vực này phải gọi là người Trung Quốc gốc Việt! Người hiểu thực trạng này sẽ không nói những truyền thuyết đó là tiểu thuyết truyền kỳ Trung Hoa! Việc sử gia  rút từ truyền thuyết của người Việt nơi phát sinh cội nguồn của mình để viết sử là sự lựa chọn khoa học!
Cũng có sự thực là, truyền thuyết trên không tồn tại đơn độc mà có liên hệ với những sự kiện khác. Đó là châu Kinh, châu Dương trên lưu vực Dương Tử, hai địa danh Việt từ xa xưa. Ai dám chắc không có mối quan hệ nào giữa vùng đất Kinh, Dương với danh xưng Kinh Dương Vương? Các bậc vua chúa, công hầu thường lấy đất mình trị vì làm tên hiệu. Đó còn là truyền thuyết về Thần Nông hơn 3000 năm TCN. Còn là câu ca Công cha như núi Thái Sơn / Nghĩa mẹ như nuớc trong Nguồn chảy ra… Điều này có nghĩa, câu chuyện về con gái Động Đình Quân không phải xuất hiện thời Đường hay Tần Hán mà xa hơn nữa. Nhà tiểu thuyết có thể không cần nhưng người làm sử phải biết kết nối những điều tưởng như rời rạc, riêng rẽ ấy ngõ hầu phục nguyên gương mặt đã khuất của lịch sử. Từ những dị bản truyền thuyết khác nhau, nhà tiểu thuyết dùng tên Kinh Xuyên. Trong khi, nhà sử học chọn tên Kinh Dương Vương là hợp lý.
Bài viết cũng lộ ra chỗ yếu chết người, lộ ra “gót chân Achile” trong luận thuyết của Tiến sĩ Trần Trọng Dương. Là người biết đọc chữ Hán, ông Trần Trọng Dương đưa tất cả những tài liệu chữ Hán liên quan lên bàn nghị sự rồi cả quyết: những gì không có trong cổ thư đều không giá trị! Xin thưa, không phải cổ thư Trung Hoa là tất cả lịch sử! Cổ thư chỉ ghi chép sự kiện từ thời Tần Hán về sau. Vì vậy, dù đọc tới nát 24 bộ quốc sử (二十四史) thì người Trung Quốc cũng không biết tổ tiên họ là ai, tiếng nói của họ từ đâu ra, chữ viết của họ do đâu mà có! Tuy “Hoa Việt đồng chủng đồng văn, ” do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, cố thư Trung Hoa có thể soi sáng nhiều sự kiện của sử Việt, thì cũng chỉ từ sau thời Tần Hán thôi! Bắt cổ thư trả lời mọi câu hỏi của sử Việt khác nào bắt dê đực đẻ?! Tham vọng dùng thư tịch Trung Hoa giải quyết triệt để vấn đề họ Hồng Bàng chỉ là chuyện leo cây tìm cá!
Chỉ có thể khám phá sự thật bằng hệ quy chiếu khác: tìm tới tận cùng cội nguồn tộc Việt!
Bằng ba cuốn sách: Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt (NXB Văn Học, 2007), Hành trình tìm lại cội nguồn (Văn Học, 2008), Tìm cội nguồn qua di truyền học (Văn Học, 2011) cùng nhiều bài viết khác, chúng tôi đã chứng minh rằng, để đi tới con người hôm nay, tổ tiên ta đã kinh qua hai thời kỳ. Kết hợp những phát hiện di truyền học tìm ADN từ chính máu huyết chúng ta với tư liệu khảo cổ học, cổ nhân chủng học, văn hóa học của người Việt, chúng tôi chứng minh được rằng, 40.000 năm trước, người Việt cổ (Australoid) từ Việt Nam đi lên khai phá Trung Hoa. Khoảng 7000 năm trước, tại Hà Mẫu Độ vùng cửa sông Chiết Giang, diễn ra sự gặp gỡ hòa huyết giữa người Việt Australoid và người Mongoloid đánh cá, hái lượm có mặt ở đây từ trước, sinh ra chủng người mới Mongoloid phương Nam. Đó chính là người Việt hiện đại, tổ tiên xa của chúng ta. Lớp người Việt mới này tăng nhanh số lượng và tới khoảng 5000 năm TCN trở thành chủ nhân của vùng Sơn Đông, Hà Nam, Hà Bắc. Sơn Đông có núi Thái Sơn, là nơi ra đời của những vị tổ huyền thoại của người Việt: Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông. Còn Hà Nam nơi có con sông ngày nay mang tên Hán Thùy, nhưng trước đó, người Dương Việt chủ nhân gọi là sông Nguồn. Đồng bằng phì nhiêu do sông Nguồn sinh ra có tên là Trong Nguồn. Tại đây diễn ra sự kiện Kinh Dương Vương được phong làm vua nước Xích Quỷ năm 2879 TCN rồi chuyện Đế Lai làm vua phương Bắc, Lạc Long Quân làm vua phương Nam.
Do đất đai trù phú, nên Trong Nguồn thường xuyên bị những bộ lạc du mục Mông Cổ ở phía bắc Hoàng Hà nhóm ngó, cướp phá. Năm 2698 TCN, người Mông Cổ mở trận công kích lớn vào Trác Lộc bên bờ nam Hoàng Hà, đánh tan liên quân Việt của Đế Lai và Lạc Long Quân. Đế lai tử trận, Lạc Long Quân dẫn đoàn quân dân Việt vùng Núi Thái, Sông Nguồn dùng thuyền theo Hoàng Hà ra biển rồi đổ bộ vào Rào Rum – Ngàn Hống đất Việt. Cùng ngôn ngữ và gần gũi về chủng tộc, người Việt bản địa mở lòng đón tiếp những người mới rồi chung tay xây dựng nước Văn Lang. Văn Lang với kinh đô Hạc Trắng là gì nếu không phải chính là Xích Quỷ được dời đô và đổi quốc hiệu? Cũng lúc này, người Việt mang gen Mongoloid phương Nam trong đoàn di tản hòa huyết với người bản địa Australoid, sinh ra lớp người Mongoloid phương Nam mới, tổ tiên trực tiếp của chúng ta hôm nay mà thủ lĩnh là Hùng Vương. Câu ca:
Công cha như núi Thái Sơn
                 Nghĩa mẹ như nước Trong Nguồn chảy ra
là tấm bia ghi dấu sự kiện này.
Người Mông Cổ vào chiếm Trong Nguồn, hòa huyết với người Việt bản địa, sinh ra người Hoa Hạ, mang gen Mongoloid phương Nam. Ý thức được nguồn gốc Việt, các đế vương Trung Hoa sau này coi Trong Nguồn là đất phát tích của họ và hướng về Thái Sơn thờ tự rất tôn kính. Đến thời Đường, sông Nguồn (tiếng Việt còn đọc là Hòn, Hớn, Hán) chuyển thành Hán Thùy, còn đồng bằng Trong Nguồn được gọi là Trung Nguyên (Trong -> Trung; Nguồn -> Nguyên). Do việc biến âm này, hơn 2000 năm chúng ta không tìm ra quê gốc!
Cũng phải kể tới sự kiện khác: trận Trác Lộc! Truyền thuyết cùng cổ thư Trung Hoa cho rằng, Hoàng Đế và Viêm Đế (Thần Nông) là anh em trong cùng một bộ lạc do Viêm Đế lãnh đạo. Hoàng Đế mạnh lên, đánh bại Viêm Đế ở Phản Tuyền, giữ vị trí thống lĩnh. Viêm Đế chấp nhận vai trò phụ thuộc. Nhưng rồi Si Vưu (thực tế là Đế Lai, sau này bị gọi theo ý xấu) người của Viêm Đế nổi loạn chống Hoàng Đế. Hoàng Đế buộc phải tiêu diệt Si Vưu ở Trác Lộc. Đấy thực ra chỉ là uyển ngữ lịch sử vì mục đích chính trị, giống như sau này người ta chế tác ra chuyện Hùng Duệ Vương nhường ngôi cho Thục Phán rồi Thục Phán thề tôn thờ các vua Hùng mà quên đi những dấu tích của cuộc chiến khốc liệt chống quân Thục khắp vùng Việt Trì, Phú Thọ! Trong con mắt nhà quân sự, hai đội quân của cùng một bộ lạc chỉ có thể tranh chấp vị trí chiến lược đông dân, kinh tế trù phú chứ không khi nào kéo ra bờ con sông lớn đánh nhau. Mặc khác, nếu trong cùng bộ lạc, trận chiến sẽ không thể huy động quân số đông và diễn ra ác liệt đến thế! Trên bờ nam Hoàng Hà, Trác Lộc thực sự là trận chiến sống còn giữa kẻ xâm lăng từ phương bắc xuống và người quyết tâm giữ đất phương nam! Cổ thư Trung Hoa xác nhận sự thật này. Trong cuốn Kỳ môn độn giáp đại toàn thư có câu: Tích nhật Hoàng Đế chiến Si Vưu/ Trác Lộc kinh kim vị nhược hưu (Ngày xưa Hoàng Đế đánh Si Vưu, trận Trác Lộc đến nay còn chưa dứt). Cũng phải phân định điều này: Thần Nông sống trước 3000 năm TCN nên không thể cùng tranh chấp với Hoàng Đế là kẻ sau mình hàng trăm năm!
Với quy mô như thế của trận Trác Lộc, cho thấy, cuộc chiến năm 2698 TCN bên bờ Hoàng Hà chỉ có thể là cuộc thư hùng giữa hai nhà nước hay liên minh bộ lạc hùng mạnh. Cổ thư Trung Hoa cho biết, bên Mông Cổ là liên minh các bộ lạc, do Hiên Viên lãnh đạo mà không cho biết lực lượng của Si Vưu ra sao. Nhưng từ lực lượng của Hiên Viên, ta có thể suy ra lực lượng của Si Vưu không nhỏ. Lực lượng đó chỉ có thể có nơi những nhà nước hay liên minh bộ lạc mạnh. Từ cuộc di tản theo sông Hoàng Hà của Lạc Long Quân (vết tích còn lại trong Ngọc phả Hùng Vương) vào thời điểm này, có thể thấy trận Trác Lộc có sự liên minh giữa hai nhà nước của Đế Lai và Lạc Long Quân. Điều này còn chứng tỏ, thời điểm ra đời của nước Xích Quỷ năm 2879 TCN là có cơ sở!
Cũng phải nói tới sự kiện này: cậu bé làng Dóng! Lịch sử chưa bao giờ ghi nhận vào đời Hùng vương có chuyện giặc Ân xâm lăng nước ta. Vua Bàn Canh không thể vượt chặng đường quá xa xôi, băng qua sông lớn Trường Giang, mạo hiểm đương đầu với sự chống trả của những quốc gia Bách Việt để tới nước ta. Nhưng vì sao có chuyện cậu bé làng Dóng? Đó chính là ánh xạ của sự kiện, sau khi xâm lăng vùng đất Ân ở Hà Nam, nhà Ân Thương tiếp tục đánh người Việt, mở rộng địa bàn. Người Việt chống trả quyết liệt nhưng rồi dần dần thua cuộc. Một bộ phận người Việt từ đây chạy về Việt Nam, quê gốc của mình, mang theo hình tượng đẹp nhất của cuộc kháng chiến rồi phục dựng truyện cậu bé làng Dóng với những địa danh Bắc Ninh!
Từ phân tích trên, ta thấy rằng, sử gia Ngô Sĩ Liên đã kết nối tài tình câu chuyện ghi trong Đường Kỷ với những chi tiết rời rạc của lịch sử để phục dựng giai đoạn quan trọng thiết yếu trong lịch sử tộc Việt. Nhờ khám phá chính xác của ông, năm sáu trăm năm nay, chúng ta có được định hướng con đường tìm lại cội nguồn để không biến thành đám trôi sông lạc chợ. Tuy nhiên, do thời gian xa xôi,  chứng lý lại mong manh, nên không khỏi có những ngờ vực. Những người thiển nghĩ cho đó là chuyện “ma trâu thần rắn” hay “chỉ là ảo ảnh diễn hóa từ nhân vật Kinh Xuyên”… cũng không lạ!
Nay, nhờ phát hiện mới của khoa học nhân loại, chúng ta đã phục dựng lại diện mạo thực của lịch sử. Thật đáng mừng là những phát hiện khoa học hôm nay đã chứng minh dự cảm thiên tài của người xưa: Kinh Dương Vương là vị thủy tổ đích thực của tộc Việt!
Vừa mới xuất hiện, bài viết của Tiến sĩ Trần Trọng Dương đã lan nhanh như nước lũ trên mạng toàn cầu. Trên một vài trang mạng cho thấy bài viết đã gây sốc. Bài “Kinh Dương Vương – ông nội của vua Hùng là sản phẩm văn hóa Tàu” cho rằng “con cháu còn mãi về sau thờ một ông vua giả có nguồn gốc Tàu!”
Nhiều người hoang mang mất lòng tin vào điều thiêng liêng nhất của dân tộc, vào cái hấp lực cuối cùng gắn kết người Việt với nhau. Chắc chắn không phải là mong muốn của nhà nghiên cứu nhưng vô hình trung, đây là đòn “giải thiêng” nặng nề nhất đánh vào tâm thức Việt, vào khối đoàn kết dân tộc!
Tuy nhiên, rất may là, tới nay, nhờ tri thức của khoa học nhân loại, chúng ta đã đi tìm tới tận cùng quá khứ dân tộc Việt, khám phá chính xác hành trình mà tổ tiên chúng ta đi suốt 70.000 năm qua cho tới hôm nay. Nghiên cứu đó cho thấy phát biểu của Tiến sĩ Trần Trọng Dương là hoàn toàn sai lầm.
Tuy không chấp nhận chủ trương phô trương vô lối xây khu tưởng niệm tốn hàng trăm tỷ tiền dân, tạo mồi ngon cho bọn tham nhũng đục khoét nhưng bằng sự vững tin ở những chứng lý khoa học không thể phản bác, chúng tôi xin một lần nữa khẳng định: KINH DƯƠNG VƯƠNG LÀ THỦY TỔ CỦA NGƯỜI VIỆT!
 Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 9 năm 2013
 HVT

Rạng rỡ một Bắc Ninh

Bắc Ninh - vùng đất địa linh nhân kiệt, mảnh đất văn vật, quê hương của Kinh Dương Vương, Lý Bát Đế, nơi hội tụ của kho tàng văn hoá dân gian với nhiều công trình văn hoá nghệ thuật đặc sắc và những làn điệu dân ca quan họ trữ tình đằm thắm, nghệ thuật tạo hình, tranh dân gian Đông Hồ nổi tiếng với bạn bè trong và ngoài nước…
Rạng rỡ một Bắc Ninh
Bắc Ninh nằm ở khoảng nào trong đất nước? Câu hỏi có vẻ kỳ cục, buồn cười và hơi ngớ ngẩn. Xin thưa: Không đâu. Ai chẳng biết Bắc Ninh thuộc Kinh Bắc ngày xưa, một trong tứ trấn quanh kinh thành Thăng Long về bốn phía: Đông, Đoài, Nam, Bắc tức tỉnh Đông là Hồng Châu, Đoài là trấn Sơn Tây, Nam là Sơn Nam và Bắc là Kinh Bắc. Có thời Kinh Bắc còn lên tít Bắc Giang, Đồng Mỏ và ăn xuống Đông Ngàn, sát kinh thành. Cao Bá Quát sinh ra vùng Keo Sủi vẫn là Kinh Bắc. Nguyễn Công Hoan, Tô Hiệu sinh ra nơi Huê, nay thuộc Hưng Yên, nhưng ai chẳng biết câu ca:
Ai về Đồng Tỉnh Huê Cầu
Để thương để nhớ để sầu cho ai.
Huê Cầu chính là Xuân Cầu nằm ven đường quốc lộ số 5. Cụ Hạ Bá Cang tức nhà cách mạng Hoàng Quốc Việt chính là người quê Đáp Cầu (chứ không phải Xuân Cầu hay Huê Cầu), dòng họ Hạ Bá rải ra khắp nước và Đáp Cầu có nhà máy kính đang cung cấp kính cho trăm nơi, ai nhìn xuyên ánh sáng ra ngoài ngôi nhà, ngoài khu siêu thị, ngoài biệt thự lâu đài.... chắc là kính Đáp Cầu góp phần, có mặt....
Bánh Phu Thê ở Bắc Ninh
Hỏi Bắc Ninh nằm ở đâu chính là muốn trả lời rằng Bắc Ninh không chỉ là một vùng đất có sông Cầu, sông Đuống, có núi Phật Tích, Bách Môn, có chùa Dạm, Tiên Sơn, có bánh Phu Thê Đình Bảng, có núi Thiên Thai, có những con người nổi danh như Lê Quang Đạo của Đình Bảng, Hoàng Cầm của Thuận Thành, Ngô Gia Tự của Tam Sơn, Nguyễn Văn Cừ của Phù Khê v.v... mà Bắc Ninh là vùng nằm sâu thẳm trong lòng người cả nước.
Từ vùng châu thổ sông Hồng qua thủ đô Hà Nội, kinh đô Thăng Long, ai muốn lên biên cương phía Bắc, làm sao không qua Bắc Ninh mà được? Phi Khanh đi đầy có qua đây? Ngô Thì Nhậm đi sứ phương Bắc có qua đây? Ông thi sĩ tài hoa bất tử Nguyễn Du mang nàng Kiều về làm dâu đất Việt, Việt hoá cho cô, cho cô tên Việt, tính Việt, vóc dáng Việt để đi vào triệu hồn người Việt, có thể nào cáng võng, ngựa xe của ông lại không qua Bắc Ninh, khi chính người sinh ra ông, vợ thứ của quan Tể tướng, thân phụ ông là cô gái vùng Quan họ, cô gái Bắc Ninh trăm phần trăm, cô gái cho ông dòng máu trữ tình thi sĩ. Và biết đâu, ông chẳng dừng chân, nâng chiếc bầu rượ u nấu bằng nếp cái hoa vàng ủ bằng men la hừ ơi ơ cho tấm lưng dài nằm cáng cưỡi ngựa nhiều ngày đỡ mỏi.
Đã có bao nhiêu triệu người sống trong lòng một vùng Bắc Ninh mấy nghìn năm nay, từ khi đây là bộ Vũ Ninh, có chú bé lên ba, chợt lớn lên thành Thánh Gióng, đánh giặc, vung roi, tre gãy vụn ra khắp cánh đồng để đời sau, tre có nẩy mầm, còn rải rác bao nhiêu khóm tre khắp cánh đồng Lang Tài, Gia Bình, Thuận Thành, Tiên Sơn, núi Và, núi Bò.... cùng với vết chân ngựa thành hồ ao, có hình tròn như con mắt của đất đai, chơm chớp nhìn con cháu ngàn đời đang sống ra sao... đến nay ta vẫn bắt gặp nhiều chiều.
Và bao nhiêu triệu người qua đây từ bấy. Bao nhiêu sản vật núi rừng phải vượt Bắc Ninh về với đồng bằng? Bao nhiêu vật phẩm của đồng bằng vượt Bắc Ninh lên miền rừng núi? Bắc Ninh chứng kiến.
Chắc chắn hàng nghìn năm con đường số một không to rộng, bằng phẳng như ngày nay. Nó cong queo, uốn lượn, nó gập ghềnh khấp khểnh gồ ghề... nhưng Bắc Ninh thì lan toả, bất chấp thời gian, mưa nắng, bão bùng....
Tại sao cả nước chỉ có một vùng này là Quan họ? Tại sao có đến 49 mà không phải là một, hay hai hoặc con số tượng trưng băm sáu? Có ai người Việt lại không từng nghe một điệu la hừ, một làn Quan họ, cả người trong nước và người xa xứ tha phương lênh đênh chìm nổi? Gốc cây đa, con bướm lượn, cánh bèo dạt, đám mây trôi.... bình dị mà cao vời.... như khúc tre thành cây đàn bầu, gióng trúc thành cây sáo, đoạn lồ ô thành khúc đàn t'rưng, hòn đá thành cây đàn đá Khánh Sơn... người gái Quan họ, liền chị Quan họ đã không là một đêm hội rồi tan, một canh rồi lặn, mà nó đã đọng lại trong triệu hồn người, phải chăng nó đã là viên cát được cấy vào lòng con trai đáy biển để rồi nó trở thàn h viên ngọc trai lấp lánh bẩy sắc cầu vồng.
Những bãi dài ngô, mía ven con sông Đuống, sông Cầu, con sông đã có nhiều cầu nhưng ai qua Kinh Bắc hình như sóng vẫn vỗ ăm ắp lòng mình, con đò lãng đãng tròng trành, mà chàng ca sĩ Trương Chi không bao giờ nguôi ngoai trong tình sử, thuyền anh còn chìm trong khúc sông Tương nơi cuối làng Đình Bảng, cạnh ngôi đình nguy nga hiếm hoi trên đất Bắc, cạnh bà Lụa ghép cả tên con là Xuân thành bà Lụa Xuân, làm món bánh phu thê lừng danh không ai sánh kịp. Đình Bảng còn đó, tình yêu còn kia, lòng ta đây vẫn vang vọng câu:
Ngày xưa có anh Trương Chi
Người thì thậm xấu hát thì thậm hay
Cô Mỵ Nương vốn ở lầu Tây
Con quan Thừa Tướng ngày rày cấm cung....
Lời ca đúng là từ Việt cổ, cách nói hoàn toàn Việt, nên ai bảo rằng anh Trương Chi là người Tầu trong chuyện của Tầu thì mặc họ, ta bảo đó là chàng trai Kinh Bắc, Bắc Ninh, cùng với câu ca của thiên tài âm nhạc Văn Cao:
Ngồi đây ta gõ mạn thuyền ta ca
Trái đất còn riêng ta...
và:
Trách ai khinh nghèo quên nhau
Đôi lứa bên giang đầu....
Nhà thơ Vũ Hoàng Chương nổi tiếng một thời, lời lời châu ngọc, sống ở Hà Nội nhưng có cơ sở ở làng Diềm, cao hứng, ông lại đáp tầu lên Bắc Ninh, Phủ Lạng Thương, ghé xuống ga, vào đây để thâu đêm Quan họ, đứng tình cho thơ đẹp mộng đời....
Lò gốm Phù Lãng đang tắt. Nhưng bao đời, bao nhiêu triệu nấm mồ được cải táng, cát táng, thay áo mới, sang nhà mới.... vào dịp cuối năm, phải nhờ đến chiếc tiểu sành màu gan gà, rắn hơn đá, bền hơn thời gian để đặt vào bộ mới (có cả tiểu của Thổ Hà, tuy là Bắc Giang nhưng nằm kề ngay bên bờ sông Cầu, chỉ một lá đò ngang đã xoá nhoà biên giới hai vùng của một Kinh Bắc chung nhau...)
Ai làm tương, đặt chum tương nơi gốc cau, gốc mít, ai có chiếc hũ đựng vừng đựng lạc trong buồng, ai có chục bát sành loe miệng.... Phù Lãng là hồn nó đấy.
Đã bao nhiêu trăm phiên chợ tết làng quê phố huyện, cả chợ tết thị thành, những tờ tranh Đông Hồ được bày ngay trên nền đất chợ, lấy hòn gạch hòn đá đè lên cho gió khỏi bay: tranh Hứng dừa hớ hênh trắng nõn, tranh Đánh nghen nắc nẻ nhịp cười. Tranh đám cưới chuột mèo chuột biếu xén bịt mõm nhau, tranh Hai Bà Trưng cưỡi voi đánh giặc, tranh Gà tranh Lợn, ngữ sắc hay, xoáy âm dương.... Tranh ấy đã đi về đâu? đã in vào tâm khảm hàng trăm thế hệ, cả ông nghè đến thi sĩ, cả cậu bé đẻ tóc trái đào đến cô gái nữ trinh xem mà rúc rích đỏ đôi má trẻ... Tiếc sao nay Đông Hồ hưu hắt thời gian, ván khắc nhện chăng, tro lá tre. vỏ con điệp, quả dành dành để mốc.... Một nỗi buồn như se se heo may làm tâm tư thổn thức như mất một tình yêu không bao giờ còn gặp lại.
Bắc Ninh ở đâu, về đâu?
Bắc Ninh đâu chỉ là quê hương đứa trẻ thiếu cha nhưng trở thành ông vua khai sáng một chiều đại huy hoàng. Lý Công Uẩn trở thành Thái Tổ nhà Lý? Công của Bắc Ninh phổ vào tâm hồn nhà sư Vạn Hạnh và Khánh Vân chăng? Cũng chính chàng trai này được vợ ông vua đời trước dâng áo hoàng bào. Mục đích là đánh giặc ngoại xâm đang ngấp nghé chốn biên thuỳ. Và ai khác đều không phải cũng chính ông mở con đường cho thành đại La trở lên Thăng Long sắp vào nghìn tuổi?
Gần nghìn năm sau, nơi thờ tám vị vua nếu không nói cả Vua Bà Lý Chiêu Hoàng là 9, có một nhà giáo nhân dân, lại cũng là người được phong anh hùng lao động, ông Nguyễn Đức Thìn, hàng ngày nhang khói cho cả nước cùng hướng về chiêm bái, khiến cả mây trên tròi cao cũng đi liền tám khối thành "Bát đế vân du" một điềm báo đẹp.
Bắc Ninh đồng bằng, nhưng đột khởi núi non. Ai đã qua Gia Bình, lên núi Thiên Thai, ngọn núi đã vào Quan Trèo lên đỉnh núi Thiên Thai.... mà nghe gió sông Đuống quạt lên, mà nghe mây trời đậu vào hàng thông vi vút.... mà nơi chân núi không cao không thấp ấy, còn có ngôi miếu nhỏ. Nhỏ lắm, nhưng vào hồn người thì lại rộng bao la. đó là nơi ông Trạng nguyên đầu tiên, Trạng nguyên khai khoa đời Lý, Lê Văn Thịnh, người trí thức mở đường khoa cử gần nghìn năm trước.... được phụng thờ, với hình tượng một con rồng bằng đá, không duỗi thẳng thân mình mà bay, mà trườn mà bò... ngược lại, tự oằn oại thân mình, quay lưng lại, tự cắn vào thân mình như muốn nói nỗi oan khiên này ai sáng tỏ?
Đây có phải là con rồng duy nhất  trên cả nước có hình thù đặc biệt như thế không, khi mọi văn miếu, mọi cổ thành, mọi cung điện, đền đài... các con rồng dù 4 hay 5 móng, đều uốn dài những khúc lưng mà không con nào co quắp?
 Chùa Bút Tháp
Có ai không biết người con gái tựa vào gốc cây hoa lan mà trở thành nguyên phi, hoàng thái hậu? Có ai không biết ngôi chùa Bút Tháp, có tháp cao bằng đá, có hình tượng phồn thực Linga, có cầu quán, từng là nơi được dựng để ghi nhớ thời kỳ thịnh hành đạo Phật Việt Nam, cùng với chùa Dâu Thuận Thành, có tháp vuông rỗng ruột Hoà Phong, 7 tầng, nhưng bão tố làm hư hại chỉ còn ba, nhưng đồ sộ, hiên ngang, thách thức với thời gian, chẳng khác nào sân chùa còn khuôn giếng thơi, nước soi trời trong vắt, hẳn là chiếc gương để sửa tóc vấn khăn của nàng trinh nữ Ỷ Lan trở thành hoàng hậu và cũng là người xây dựng bao nhiêu chùa tháp Bắc Ninh, mà người đời phải công nhận rằng: Đình Đoài, chùa Bắc, nghĩa l à vùng trấn Sơn Tây phía đoài thì đình to đẹp nổi tiếng, nhưng nói đến chùa thì không nơi đâu bằng Bắc Ninh, Kinh Bắc, xem kia, chùa Tiêu, chùa Dạm, chùa Phật Tích, chùa Dâu, chùa Trăm Cửa, chùa Lim...
Làng Đại Bái là đâu, đó chính là làng mang tên nôm làng Bưởi, có nghề đúc nồi đồng điếu, gò nồi đồng thau mà có tên là làng Bưởi Nồi. Bao nhiêu nghệ nhân được phong bàn tay vàng hay không được phong vì thời xưa chưa có, ông Nguyễn Đức Chỉnh đang rời làng Bưởi Nồi về sống ở Hà Nội là một. Nghề đúc có từ bao giờ. Mấy làng của Bắc Ninh rời về Thăng Long lập ra làng Ngũ Xã? Pho tượng Trấn Vũ còn đây? Kinh thành Huế cũng có nghề đúc, có lần thấy những chiếc vạc đồng nằm nghiêng ngả giữa sân rêu, lòng vạc có lá vàng rụng với bèo tấm hoang vu.... mà chạnh lòng nhớ về phường thợ đúc đã tiêu tan, phường đúc Huế và phường đúc Đại Bái có đồng môn? Không biết, nhưng Bắc Ninh hiện hình qua bao nhiêu bát nhang bằng đồng, những chân nến, những đỉnh đồng, lư đầu, những âu trầu cho các bà các mẹ bao thời ăn trầu, những lồng ấp đựng than hồng sưởi chân mệnh phụ, tiểu thư.... Bắc Ninh tung đàn con của mình vào đất nước, hào phóng khác gì tình mẹ...
Hỏi Bắc Ninh ở đâu, không còn là buồn cười, ngớ ngẩn. Bắc Ninh nằm trong cả nước, Bắc Ninh đọng giữa muôn hồn. Bắc Ninh trở thành cái nôi Quan họ, thành niềm say đắm dân gian cho thơ cho nhạc cho hoạ cho tình cho nghĩa....
Vật đổi sao rời.... Văn Miếu Bắc Ninh đang được tu chỉnh. đã có nhiều khu ruộng bỏ lúa trồng hoa đào, Tết của cả nước, Bắc Ninh cũng đang góp thêm phần tươi thắm....
Có một Bắc Ninh rộng mênh mông là thế. Tự hào lắm chứ !.
Miền quê của những di sản lịch sử, văn hoá tiêu biểu
Đến bất cứ đâu trên mảnh đất Bắc Ninh - miền quê ''địa linh nhân kiệt", nơi từ nghìn xưa cho đến hôm nay luôn là phên dậu phía Bắc của kinh thành Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, cũng đầy ắp những kỉ niệm lịch sử được kết tinh trong những di sản văn hoá tiêu biểu ở khắp các làng quê của vùng đất này.
Bên kia sông Đuống, trên đất Thuận Thành uy nghiêm lăng mộ Kinh Dương Vương, đền thờ Lạc Long Quân -Âu Cơ tại làng Á Lữ - di tích thờ "Nam bang thuỷ tổ" (ông tổ nước Nam). Thành cổ Luy Lâu ở xã Thanh Khương (Dâu) với các di tích dinh thự, phố chợ, đền đài, chùa tháp nguy nga còn lại của trung tâm chính trị, kinh tế thương mại, trung tâm Phật giáo và Nho giáo của nước ta trong thiên niên kỷ đầu công nguyên.
Lăng mộ Kinh Dương Vương

Thuận Thành còn là miền quê của nghệ thuật dân gian với làng tranh Đông Hồ, làng ca trù Thanh Tương, múa rối nước Bùi Xá, kiến trúc Phật giáo nổi tiếng cổ kính và mỹ lệ như Chùa Dâu, chùa Bút Tháp. Đây còn là quê hương của nhiều thi nhân nổi tiếng như Nguyễn Gia Thiều, Sái Thuận.
Qua Thuận Thành, tới Gia Bình, nơi có ngọn Thiên Thai thơ mộng, quê hương của ông trạng khai khoa Lê Văn Thịnh là một địa thắng nổi tiếng nên các vua chúa đời trước đã dựng chùa Đông Lâm, chùa Tĩnh Lự trên đỉnh núi, cung Long Phúc ở sườn non để thường xuyên về đây du ngoạn. Qua Thiên Thai tới Lệ Chi Viên và dấu tích hành cung Đại Lai nơi xẩy ra vụ oan nghiệt với Nguyễn Trãi - người anh hùng dân tộc và danh nhân văn hoá thế giới.
Từ Đại Lai sang chùa Đại Bi, quê hương của nhà sư - thi sỹ nổi tiếng Huyền Quang, một trong ba vị tổ của thiền phái Trúc Lâm thời Trần. Xuống cửa Lục Đầu, Bình Than vũ công lẫy lừng, vào thăm đền thờ và lăng mộ Cao Lỗ Vương ở làng Đại Than và Tiểu Than quê hương của nhà quân sự tài ba đã sáng chế ra nẫ y nỏ và kiến trúc kinh thành Cổ Loa, giúp vua An Dương Vương bảo vệ nhà nước Âu Lạc.
Vượt cầu Hồ hay từ Hà Nội ngược quốc lộ 1A qua sông Hồng, sông Đuống tới đất Từ Sơn xưa, nay là các huyện Từ Sơn, Tiên Du, Yên Phong, thị xã Bắc Ninh và huyện Quế Võ. Hơn bất cứ đâu nơi đây đậm đặc di tích lịch sử và sống động truyền thống văn hoá Việt Nam. Làng Đình Bảng, lăng Lý Bát Đế, đền Cổ Pháp-nơi yên nghỉ và tôn thờ các vua Lý những bậc minh quân đã khai mở một triều đại vàng son, xây dựng và phát triển nền văn minh Đại Việt. Vùng đất này là địa bàn chủ yếu để thi triển các chính sách bảo vệ và xây dựng đất nước, phát triển văn hoá Việt Nam của các triều đại với nhiều thành tựu rực rỡ.
Chiến tuyến Như Nguyệt, đền Xà, đền Yên Phụ (Yên Phong) còn âm vang lời tuyên ngôn trên dòng sông Cầu lịch sử "Nam quốc sơn hà Nam đế cư" (sông núi nước Nam vua Nam ở). Các chùa: Phật Tích, Tiêu Sơn, Bách Môn, Cổ Pháp, Lãm Sơn (Dạm), Hàm Long, các đình: Đình Bảng, đình Diềm, đền Bà Chúa Kho, đình Hồi Quan, Cổ Mễ, thành cổ Bắc Ninh,...là những danh lam cổ tự và những công trình kiến trúc nghệ thuật vào bậc nhất của nước ta thời Lý-Trần-Lê. Tiêu biểu là Văn Miếu Bắc Ninh, nơi tôn thờ trên 600 tiến sỹ quê hương Kinh Bắc-Bắc Ninh, chiếm 1/3 các vị đại khoa Hán học cả nước, cho thấy Bắc Ninh là vùng đất tiêu biểu của nền văn hiến Việt Nam.
Nền văn hiến ấy nẩy nở, bảo tồn và phát triển trước hết ở các làng xã Bắc Ninh. Đa số làng quê ở đất này được tôn vinh là "Mỹ tục khả phong", "địa linh nhân kiệt" bởi có lịch sử lâu đời và trù phú với các hoạt độ ng kinh tế, văn hoá vừa đa dạng vừa sôi động. Nơi đây có các làng tiến sỹ như Kim Đôi, Tam Sơn, Vĩnh Kiều,...các làng buôn nổi tiếng như Phù Lưu, Mai Động, Đình Bảng, Lũng Giang,... và đông đảo các làng thợ; làm giấy gió Đống Cao, chạm khắc gỗ Phù Khê, Kim Thiều, Đồng Kỵ; rèn sắt Đa Hội, sơn mài Đình Bảng, đúc đồng Đại Bái, Quảng Bố, làm gốm Phù Lãng, dệt lụa Cẩm Giang, Tam Sơn, Nội Duệ,...
Lễ hội Bà Chúa Kho

Bắc Ninh là vương quốc của lễ hội, quê hương của sinh hoạt văn hoá dân gian đặc sắc và phát triển tới đỉnh cao. Hầu như làng nào cũng có lễ hội, trong đó có nhiều lễ hội tiêu biểu cả vùng, cả nước như hội xem hoa mẫu đơn chùa Phật Tích, hội rước pháo Đồng Kỵ, hội đền Lý Bát Đế, đền Bà Chúa Kho, hội chùa Dâu, chùa Bút Tháp, chùa Hàm Long, hội đền Phả Lại, hội giổ tổ Huyền Quang,...Nổi tiếng và thu hút là hội ca hát giao duyên của các làng Quan Họ.
Lễ hội và các hoạt động văn hoá của dân tộc Việt Nam trên vùng đất Bắc Ninh - Kinh Bắc: thông minh, cần cù, tài khéo, năng động và tinh xảo trong hoạt động kinh tế, sáng tạo trong hoạt động văn hoá nghệ thuật và bao trùm là đạo lí sống "uống nước nhớ nguồ n" , quý trọng cái tình, cái nghĩa, sự chung thuỷ trong quan hệ ứng xử giữa người với người "bốn biển một nhà", "tình chung một khắc, nghĩa dài trăm năm", tôn vinh tình yêu thương con người và sự mê say các hoạt động văn hoá nghệ thuật. Vì vậy về với Bắc Ninh là về với quê hương của thi ca, nhạc hoạ, về với cội nguồn dân tộc và văn hoá Việt Nam.
Ngày nay trong sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, những di sản văn hoá quý giá của quê hương Bắc Ninh - Kinh Bắc đang được bảo tồn và phát huy, góp phần xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hiến Kinh Bắc.

Bắc Ninh tứ vật



Vật giao Phù Lưu hữu
Vật thú Đình Bảng thê
Vật ẩm Đồng Kỵ thuỷ
Vật thực Cẩm Giang kê


(Chớ đánh bạn với người Phù Lưu
Chớ lấy con gái Đình Bảng làm vợ
Chớ uống nước làng Đồng Kỵ
Chớ ăn thịt gà Cẩm Giang)
Bốn nơi này là bốn làng cổ của đất Kinh Bắc. Và câu chuyện bốn không nói đến mặt khuất của cuộc sống, chưa thấy đề cập ở sách báo nào. Có lẽ người ta e ngại nếu thành văn tự sẽ gây phiền toái, cãi vã mất lòng, mà chỉ lưu truyền trong dân gian.
Vật giao Phù Lưu hữu (không kết bạn với người Phù Lưu), là vì người Phù Lưu bị cho rằng có cách sống đãi bôi. Khách đến chơi không được mời vào nhà, chủ nhà cứ đứng chắn trước cửa hết chuyện nọ chuyện kia rất thân tình.
Khách quay lưng ra về mới chèo kéo: Hôm nào bác lại chơi ạ. Hoặc khách đến nhà quá trưa không mời ở lại ăn cơm như thói quen của người nông thôn Bắc Bộ. Khách nhổm đứng dậy thì lại đãi bôi: Hay để em nấu cơm bác ăn.
Vật thú Đình Bảng thê (không lấy vợ người Đình Bảng) vì hai lẽ: Con gái Đình Bảng tháo vát, đi chợ buôn chuyến rất giỏi, nên thường làm chủ về kinh tế, có vị thế trong nhà, không dễ để chồng lên mặt. Điều đó rất kị với thói gia trưởng của dân Kinh Bắc.
Còn điều thứ hai mới quan trọng: Đi buôn chuyến thì phải ăn đường nằm chợ dễ chung chạ với giai.
Vật ẩm Đồng Kỵ thuỷ (không uống nước Đồng Kỵ) vì người Đồng Kỵ xưa có nghề nhặt phân tươi, gọi là Kẻ cời (cời, tiếng cổ có nghĩa là cái gắp, cái kẹp thường làm bằng tre). Họ đem về trữ làm phân bón, nên môi trường bị ô nhiễm dễ làm bẩn nước ăn (là người thiên hạ nghĩ thế). 
Vật thực Cẩm Giang kê (không ăn thịt gà ở Cẩm Giang). Theo giải thích thì người Cẩm Giang hay đãi khách bằng gà ăn trộm của hàng xóm, nên có khi vừa ăn lại phải vừa nghe chửi mất gà, vậy tránh đi là hơn.
Đó là những câu chuyện xưa, chỉ để lại trong tục ngôn. Bây giờ về những nơi ấy chẳng thấy dấu vết gì. Cuộc sống thay đổi, nếp sống văn hoá thân thiện.
Một bạn ở Sài Gòn nghe chuyện nói với tôi: “Người trong Nam chỉ biết Bắc Ninh là vùng đất có truyền thống văn hoá lâu đời, quê hương quan họ. Không ngờ trong văn hoá ứng xử lại có nét chi ly như vậy?
Những thói xấu đãi bôi, lờn mặt chồng, ăn uống mất vệ sinh, ăn cắp vặt thì vùng nào cũng có. Nhưng nâng tầm “văn hoá địa phương” thì đây là trường hợp đặc sắc”.
Tôi bảo anh: “Bắc Ninh quả là vùng đất giàu truyền thống văn hoá. Như nhà văn Kim Lân, người Kinh Bắc, sinh thời từng bảo: “Đất có lề quê có thói, đâu cũng có cái tốt cái xấu, chỉ có điều người Bắc Ninh dám nói ra còn nơi khác thì không.
Đó là nét văn hoá đặc biệt Kinh Bắc, sòng phẳng và lành mạnh, chẳng giấu cái xấu cái dở của đất mình, biết sai thì sửa được. Nên bây giờ còn có chuyện đó đâu”.
Có lẽ vì thế mà văn hoá Kinh Bắc không mai một, văn hoá vùng Kinh Bắc vẫn rạng rỡ tới ngày nay.








Thứ Hai, 25 tháng 11, 2013

Kinh Bắc

Thăng Long tứ trấn còn một cách hiểu khác đó là bốn kinh trấn hay còn gọi là nội trấn (ngoài ra là các phiên trấn) bao quanh kinh thành Thăng Long, có nhiệm vụ che chắn, bảo vệ kinh thành ngay từ vòng ngòai khi kinh thành trực tiếp bị đe dọa. Ngoài ra, vì ở gần kinh thành nên bốn trấn còn là những lực lượng có nhiệm vụ "cứu giá" và dẹp yên nội loạn khi kinh thành có biến. Đó là các trấn:
  • Kinh Bắc: bao gồm 4 phủ (20 huyện) các tỉnh Bắc Ninh, Bắc GiangPhúc Yên sau này. Cụ thể, đó là các huyện: Đông Ngàn, Yên Phong, Tiên Du, Võ Giàng, Quế Dương (5 huyện - thuộc phủ Từ Sơn) Gia Lâm, Siêu Loại, Văn Giang, Gia Định, Lang Tài (5 huyện - thuộc phủ Thuận An) Kim Hoa, Hiệp Hoà, Yên Việt, Tân Phúc (4 huyện - thuộc phủ Bắc Hà), và cuối cùng là: Phượng Nhãn, Hữu Lũng, Yên Dũng, Bảo Lộc, Yên Thế, Lục Ngạn (6 huyện - thuộc phủ Lạng Giang). Vì trấn lỵ ở Đáp Cầu, huyện Võ Giàng (phía Bắc kinh thành), nên Kinh Bắc cũng được gọi là trấn Bắc hay trấn Khảm =>> Thành Bắc Ninh đặt tại Bắc Ninh.
Kinh Bắc(chữ Hán京北) là tên một địa danh cũ ở phía bắc Việt Nam. Năm Canh Tuất, 1490, vua Lê Thánh Tông cho định lại bản đồ cả nước, gồm 13 (đạo) xứ thừa tuyên (sau gọi là xứ, từ triều Tây Sơn tới đầu triều Nguyễn đổi sang gọi là trấn). Đến đây mới xuất hiện tên gọi các trấn (xứ), từ Nghệ An trở ra Bắc gồm: (trấn) xứ Kinh Bắc (còn gọi là xứ Bắc), xứ Sơn Nam (trấn Sơn Nam Thượng, trấn Sơn Nam Hạ), Xứ Đông (trấn Hải Dương), Xứ Đoài (trấn Sơn Tây), trấn Hưng Hóa, trấn Cao Bằng, trấn An Quảng (Yên Quảng), xứ Thái Nguyên, xứ Lạng Sơn, xứ Tuyên Quang, phủ Hoài Đức (Thăng Long), đạo Thanh Bình, nội trấn Thanh Hoa, trấn Nghệ An. Tuy nhiên, tới thời vua Gia Long nhà Nguyễn, Kinh Bắc vẫn được gọi là xứ (xứ Kinh Bắc) thuộc Bắc thành tổng trấn[1]. Theo đó:
Trấn Kinh Bắc xưa gồm 4 phủ (20 huyện), hiện nay bao gồm toàn bộ ranh giới 2 tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và một phần nhỏ các tỉnh thành lân cận là Hà Nội (toàn bộ khu vực phía bắc sông Hồng là: Gia Lâm, Long Biên, Đông Anh, Mê Linh, Sóc Sơn); Hưng Yên (Văn Giang, Văn Lâm) và Lạng Sơn (Hữu Lũng).
Cụ thể, đó là các phủ và huyện sau:
Vì trấn lỵ ở Đáp Cầu, huyện Võ Giàng (phía bắc kinh thành), nên Kinh Bắc cũng được gọi là trấn Bắc hay trấn Khảm.http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/b/b0/Tutranthanglong.jpg


 http://chimvie3.free.fr/14/lvhs053/DKDDC32c.jpg
 Huyện Đông Ngàn, gồm các tổng: tổng Hội Phụ (gồm các xã Đông Ngàn, Hội Phụ, Ông Xá, Du Lâm, Tiên Hội, Hoa Lâm, Mai Hiên, Lộc Hà; nay là các xã Đông Hội (Đông Ngàn, Hội Phụ, Tiên Hội), Mai Lâm (Du Lâm, Hoa Lâm, Mai Hiên, Lộc Hà) của huyện Đông Anh Hà Nội), tổng Hà Lỗ, tổng Yên Thường (gồm các xã Yên Thường, Trịnh Xá, Quy Mông, Xung Quán, Châu Tháp (các thôn Đa Hội, Đa Vạn), Đình Vĩ, Song Tháp; nay là phần đất thuộc xã Yên Thường huyện Gia Lâm, các xã Châu Khê (Châu Tháp), Phù Khê huyện Từ Sơn Bắc Ninh), tổng Hạ Dương (gồm các xã Hạ Dương, Ninh Giang, Hiệp Phù, Công Đình, Ninh Xuyên, Phù Ninh; nay là phần đất xã Ninh Hiệp (Ninh Giang, Hiệp Phù), Dương Hà, Đình Xuyên (Công Đình, Ninh Xuyên),... huyện Gia Lâm), tổng Dục Tú, tổng Mẫn Xá, tổng Phù Lưu (gồm các xã Phù Lưu, Đại Đình, Đình Bảng, Dương Lôi, Trang Liệt, Bính Hạ, Thụ Chương; nay là phần đất thuộc các xã Đình Bảng,... huyện Từ Sơn Bắc Ninh), tổng Phù Chẩn (gồm các xã Phù Chẩn, Phù Cảo, Phù Lộc, Phù Luân; nay là phần đất thuộc các xã Phù Chẩn,... huyện Từ Sơn Bắc Ninh), tổng Nghĩa Lập, tổng Cổ Loa (gồm các xã Cổ Loa, Lương Quán, Đường An (Đường Yên), Lỗ Giao, Lương Quy, Dục Nội, Gia Lộc; nay là phần đất các xã Cổ Loa (Cổ Loa), Việt Hùng (Lỗ Giao, Dục Nội, Gia Lộc), Xuân Nộn (Đường Yên),... huyện Đông Anh), tổng Tam Sơn, tổng Xuân Canh (gồm các xã Xuân Canh, Lực Canh, Xuân Trạch, Vạn Lộc, Mạch Tràng, Uy Nỗ Thượng, Phúc Lộc, Kinh Nỗ; nay thuộc phần đất các xã Xuân Canh (Xuân Canh, Vạn Lộc, Lực Canh, Xuân Trạch), Uy Nỗ (Uy Nỗ Thượng, Phúc Lộc, Kinh Nỗ), Cổ Loa (Mạch Tràng) của huyện Đông Anh), tổng Tuân Lệ (gồm các xã Tuân Lệ, Uy Nỗ, Uy Nỗ Trung, Vân Trì, Viên Nội, Tiên Kha, Cổ Dương, Chiêm Trạch, Phương Trạch, Ngọc Giang; nay là các xã Uy Nỗ, Vân Nội (Vân Trì, Viên Nội), Tiên Dương (Tiên Kha, Cổ Dương, Tuân Lệ), Vĩnh Ngọc (Chiêm Trạch, Phương Trạch, Ngọc Giang),... của huyện Đông Anh),. Huyện Đông Ngàn xưa, ngày nay là phần đất thuộc các quận huyện Đông Anh, Gia Lâm, Long Biên của Hà Nội.
















Thăng Long tứ trấn

Thăng Long tứ trấn là khái niệm xuất hiện trong dân gian để chỉ về bốn ngôi đền thiêng trấn giữ các hướng Đông Tây Nam Bắc của thành Thăng Long đó là:
Thăng Long tứ trấn còn một cách hiểu khác đó là bốn kinh trấn hay còn gọi là nội trấn (ngoài ra là các phiên trấn) bao quanh kinh thành Thăng Long, có nhiệm vụ che chắn, bảo vệ kinh thành ngay từ vòng ngòai khi kinh thành trực tiếp bị đe dọa. Ngoài ra, vì ở gần kinh thành nên bốn trấn còn là những lực lượng có nhiệm vụ "cứu giá" và dẹp yên nội loạn khi kinh thành có biến. Đó là các trấn:
  • Kinh Bắc: bao gồm 4 phủ (20 huyện) các tỉnh Bắc Ninh, Bắc GiangPhúc Yên sau này. Cụ thể, đó là các huyện: Đông Ngàn, Yên Phong, Tiên Du, Võ Giàng, Quế Dương (5 huyện - thuộc phủ Từ Sơn) Gia Lâm, Siêu Loại, Văn Giang, Gia Định, Lang Tài (5 huyện - thuộc phủ Thuận An) Kim Hoa, Hiệp Hoà, Yên Việt, Tân Phúc (4 huyện - thuộc phủ Bắc Hà), và cuối cùng là: Phượng Nhãn, Hữu Lũng, Yên Dũng, Bảo Lộc, Yên Thế, Lục Ngạn (6 huyện - thuộc phủ Lạng Giang). Vì trấn lỵ ở Đáp Cầu, huyện Võ Giàng (phía Bắc kinh thành), nên Kinh Bắc cũng được gọi là trấn Bắc hay trấn Khảm =>> Thành Bắc Ninh đặt tại Bắc Ninh.
  • Sơn Nam: Gồm 11 phủ (42 huyện) tương đương các tỉnh Hà Đông, Hà Nam, Thái Bình, Nam Định, Ninh BìnhHưng Yên sau này. Cụ thể, đó là các huyện: Thanh Đàm, Thượng Phúc, Phú Xuyên (3 huyện - thuộc phủ Thường Tín) Thanh Oai, Chương Đức, Sơn Minh, Hoài An (4 huyện - thuộc phủ Ứng Thiên) Nam Xang, Kim Bảng, Duy Tiên, Thanh Liêm, Bình Lục (5 huyện - thuộc phủ Lý Nhân) Đông An, Kim Động, Tiên Lữ, Thiên Thi, Phù Dung (5 huyện - thuộc phủ Khoái Châu) Nam Chân, Giao Thuỷ, Mỹ Lộc, Thượng Nguyên (4 huyện - thuộc phủ Thiên Trường) Đại An, Vọng Doanh, Thiên Bản, Ý Yên (4 huyện - thuộc phủ Nghĩa Hưng) Thuỵ Anh, Phụ Dực, Quỳnh Côi, Đông Quan (4 huyện - thuộc phủ Thái Bình) Ngự Thiên, Duyên Hà, Thần Khê, Thanh Lan (4 huyện - thuộc phủ Tân Hưng) Thư Trì, Vũ Tiên, Chân Định (3 huyện - thuộc phủ Kiến Xương) Gia Viễn, Yên Mô, Yên Khang (3 huyện thuộc phủ Trường An) và cuối cùng là: Phụng Hoá, An Hoá, Lạc Thổ (3 huyện - thuộc phủ Thiên Quan). Vì trấn lị ở phía Nam kinh thành, nên Sơn Nam cũng được gọi là trấn Nam hay trấn Ly =>> Thành Nam đặt tại Nam Định.
  • Hải Dương: Gồm 4 phủ (18 huyện) bao gồm các tỉnh Hải Dương, Hải PhòngKiến An sau này. Cụ thể, đó là các huyện: Đường Hào, Đường An, Cẩm Giàng (3 huyện - thuộc phủ Thượng Hồng) Gia Phúc, Tứ Kỳ, Thanh Miện, Vĩnh Lại (4 huyện - thuộc phủ Hạ Hồng) Thanh Hà, Thanh Lâm, Tiên Minh, Chí Linh (4 huyện - thuộc phủ Nam Sách) và cuối cùng là: Giáp Sơn, Đông Triều, An Lão, Nghi Dương, Kim Thành, Thuỷ Đường, An Dương (7 huyện - thuộc phủ Kinh Môn). Vì trấn lị ở phía Đông kinh thành, nên Hải Dương cũng được gọi là trấn Đông hay trấn Chấn =>> Thành Đông -Thành Hải Dương đặt tại Hải Dương.
  • Sơn Tây: Gồm 6 phủ (24 huyện) tương đương các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh YênSơn Tây sau này. Cụ thể, đó là các huyện: Từ Liêm, Phúc Lộc, Yên Sơn, Thạch Thất, Đan Phượng (5 huyện - thuộc phủ Quốc Oai) An Lãng, An Lạc, Bạch Hạc, Tiên Phong, Lập Thạch, Phù Khang (6 huyện - thuộc phủ Tam Đái) Sơn Vi, Thanh Ba, Hoa Khê, Hạ Hoà (4 huyện - thuộc phủ Lâm Thao) Đông Lan, Tây Lan, Sơn Dương, Đương Đạo, Tam Dương (5 huyện - thuộc phủ Đoan Hùng) Tam Nông, Bất Bạt (2 huyện - thuộc phủ Đà Dương) và cuối cùng là: Mỹ Lương, Minh Nghĩa (2 huyện - thuộc phủ Quảng Oai). Vì trấn lị ở phía Tây kinh thành, nên Sơn Tây cũng được gọi là trấn Tây hay trấn Đoài =>> Thành Tây - Thành cổ Sơn Tây đặt tại Sơn Tây.









Thành cổ Bắc Ninh


http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/d/dd/M%E1%BB%99t_c%E1%BB%ADa_th%C3%A0nh_B%E1%BA%AFc_Ninh.jpg

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/3/39/B%C3%AAn_trong_th%C3%A0nh_B%E1%BA%AFc_Ninh.jpg

http://vietlandmarks.com/upload/506921cdcef10.jpg

Hình ảnh



http://batkhuat.net/images/BacNinh_le_lendemain_de_sa_chute.jpg



http://commondatastorage.googleapis.com/static.panoramio.com/photos/original/15989521.jpg













































Thứ Bảy, 23 tháng 11, 2013

Phát hiện ngôi mộ người Việt cổ niên đại hàng nghìn năm


  Ngôi mộ làm từ một thân cây gỗ lim lớn, có chiều dài 3,6m, đường kính của thân mộ 0,7m, thân khoét rỗng, phía trong có hài cốt và nhiều đồ tùy táng bằng đồng thau...
 
Ngày 26/1/2013, ban quản lý Di tích và Danh thắng Nghệ An đã phát hiện tại đền Mạch Mã một ngôi mộ thuyền cổ.
 
Được biết, ngôi mộ thuyền cổ này được ông Nguyễn Văn Vinh, trú tại xóm 2, phát hiện được ở độ sâu 4m, trong khi thuê máy xúc đào ao thả cá tại rú Làng Cừa, cách ngôi đền Bạch Mã về phía Bắc khoảng 400m vào cuối năm 2011.
Ngôi mộ làm từ một thân cây gỗ lim lớn, có chiều dài 3,6m, đường kính của thân mộ 0,7m, thân khoét rỗng, phía trong có hài cốt và nhiều đồ tùy táng bằng đồng thau. Trong đó có một chậu đồng có đường kính 49cm, khá nguyên vẹn, 2 bên chậu có 2 quai tròn, phía đáy có hoa văn hình chữ thập.
Sau khi phát hiện được ngôi mộ này ông Vinh đã thuê nhân dân di dời toàn bộ hài cốt trong mộ về nghĩa trang của xã và hiến tặng hiện vật quý này cho nhà truyền thống của xóm 2 để bảo quản trưng bày cho nhân dân tham quan.
Một số người dân ở đây cho biết, trong những năm 1986,1987, trong quá trình làm thuỷ lợi ở khu vực gần phía sau đền Bạch Mã, người dân cũng đã phát hiện nhiều ngôi mộ tương tự. Rất có thể, khu vực quanh ngôi đền Bạch Mã ngày xưa là nơi chôn cất của người Việt cổ?
Điều đáng nói, ngôi đền Bạch Mã này cũng là một ngôi cổ đền theo người dân cho biết đã có niên đại trên một ngìn năm tuổi, được Uy Minh Vương Lý Nhật Quang cho xây dựng để thờ vọng vua Lý Thái Tổ và Hoàng Thái hậu Lê Thị Phất Ngân, thân phụ của Uy Minh Vương trong thời gian ông làm tri châu ở đất Nghệ An.
Theo ông Phan Văn Hùng, Phó Ban Quản lý Di tích và Danh Thắng Nghệ An và là một người con của vùng đất Liên Thành thì đây có thể là một ngôi mộ của người Việt cổ có niên đại cách ngày nay hàng nghìn năm.
Phát hiện ngôi mộ người Việt cổ niên đại hàng nghìn năm 1
Phát hiện ngôi mộ người Việt cổ niên đại hàng nghìn năm 2
 Mộ thuyền cổ được lưu giữ cẩn thận.
Phát hiện ngôi mộ người Việt cổ niên đại hàng nghìn năm 3
 Chậu đồng, đồ tùy táng được chôn theo người quá cố.
Phát hiện ngôi mộ người Việt cổ niên đại hàng nghìn năm 4
Phát hiện ngôi mộ người Việt cổ niên đại hàng nghìn năm 5
 Tại đền có lưu giữ nhiều hiện vật phục vụ đời sống nông ngiệp.
Phát hiện ngôi mộ người Việt cổ niên đại hàng nghìn năm 6
Đền Bạch Mã nơi lưu giữ ngôi mộ thuyền cồ.

Bộ tộc sống trên cây duy nhất trên trái đất

Không chỉ là tộc người duy nhất trên trái đất dựng nhà trên ngọn cây cao 30 mét, người Korowai còn là một trong số ít bộ tộc ăn thịt người còn sống sót tới ngày nay

Sâu trong khu rừng già gần như không có đường đi, thuộc một tỉnh của Papua, Đông Nam Indonesia là nơi sinh sống của một tộc người chỉ sống trên cây cao và có cách sống gần như người nguyên thủy. Chỉ cách biển Arafura có 150 km nhưng nơi này gần như không có chút dấu hiệu gì của cuộc sống hiện đại với nhà gạch, mái ngói, chăn nuôi, vườn tược hay bất cứ một dụng cụ hiện đại nào.
http://lh5.googleusercontent.com/-1Dj843v-Ocg/UQP-btYHtFI/AAAAAAAAj6k/HKOGOQmkAgA/s800/korowai-tribe-1.jpg
Một ngôi nhà trên ngọn cây của người Korowai. Ảnh: amusingplanet.
Tộc người này có tên Korowai sống tách biệt hẳn với thế giới bên ngoài từ hàng nghìn năm trước. Như người nguyên thủy, bộ tộc Korowai sống thành một nhóm lớn, nói ngôn ngữ riêng, chỉ chuyên săn bắn và hái quả để kiếm sống. Cuộc sống của họ vốn không ai biết, cũng như họ không hề biết có cuộc sống nào ngoài kia, cho tới khi một nhà truyền giáo người Hà Lan tới Indonesia và phát hiện ra họ vào năm 1974.
Người Korowai sống trên những ngọn cây cao từ 12 tới tận 35 mét. Khu vực này nổi tiếng là nơi thâm sơn cùng cốc của rừng già, với nhiều loài động vật nguy hiểm như rắn, rết, muỗi, vắt đe dọa tính mạng con người. Theo người Korowai, họ xây nhà tít trên cao hàng chục mét vừa nhằm tránh sự tấn công của động vật nguy hiểm, đồng thời vừa có thể lánh xa khỏi những linh hồn ác quỷ luôn lẩn khuất trong rừng. Dù nhà cửa cất ở trên cao chỉ với sàn nhà bằng gỗ gác lên những nhánh cây, nhà của người Korowai thông thường có thể chứa được từ 5 tới tận 12 người, cùng với nhiều loại vật nuôi khác nhau
STNMTZ-19950601-40-2752-1385169031.jpg
Bên trong ngôi nhà tổ chim. Ảnh: georgesteinmetz.com.
Để lên những ngôi nhà cao ngất này, người dân ở đây dùng một thân cây khô lớn, đẽo thành những bậc thang để bước lên và treo nối với sàn nhà. Khi đêm xuống, họ chỉ việc kéo thang lên và ngôi nhà trên cao trở thành một tổ chim khổng lồ hoàn toàn nội bất xuất ngoại bất nhập.
Không chỉ là tộc người duy nhất sống trên cây cao, người Korowai còn là một số ít bộ tộc ăn thịt người còn tồn tại cho tới ngày nay. Những người này có niềm tin bất diệt với ác quỷ, sự chiếm lĩnh linh hồn và cái chết, nên họ vô cùng sợ thầy phù thủy. Chính vì vậy, theo luật lệ những người trong gia đình bị trù úm sẽ giết và ăn thịt những kẻ được cho là phù thủy xuất hiện trong bộ tộc.
Đàn ông của bộ tộc này hầu như không mặc gì mà chỉ quấn một sợi dây ngang bụng và trang trí trên mũi những đồ vật làm từ răng dơi hay răng động vật khác. Còn đàn bà của bộ tộc thường chỉ mặc duy nhất một chiếc váy ngắn làm bằng những chiếc lá khô.
dsc03313-5633-1385169031.jpg
Những người phụ nữ của bộ tộc chỉ mặc duy nhất một chiếc váy ngắn làm từ lá cây khô. Ảnh: alisyarief.com.
Từ đầu những năm 90, sau khi được phát hiện và biết đến thế giới mới bên ngoài, nhiều người Korowai trẻ đã tham gia vào việc dẫn khách du lịch đi khắp nơi thăm thú thế giới nguyên thủy nhỏ bé của họ và họ bắt đầu có được nguồn thu nhập bằng những tờ tiền chưa từng thấy bao giờ. Dù vậy, cuộc sống hiện đại mới được biết đến vẫn không có ảnh hưởng gì mấy tới cuộc sống của họ. Những cuộc săn bắn, hái lượm, những hủ tục và truyền thống của họ vẫn được tiếp diễn theo lối hàng nghìn năm trước vẫn vậy.
 http://trekpapua.files.wordpress.com/2012/02/korowai-trip.jpg

 http://3.bp.blogspot.com/-sCIqaTSgIWY/TdpsL65-PjI/AAAAAAAAAI0/UiJoF3c6Ydk/s640/korowai.jpg

 http://farm9.staticflickr.com/8067/8211212087_ff85acbd10_h.jpg

 http://voyagesaventures.com/VA/voyages/korowai-23.jpg

 http://voyagesaventures.com/VA/voyages/korowai-02.jpg

 http://farm8.staticflickr.com/7038/6981652477_7508ffafe6_o.jpg

 http://image.yaymicro.com/rz_1210x1210/2/27d/white-man-with-camera-and-korowai-people-227db08.jpg

 http://www.jpdutilleux.com/wp-content/uploads/2013/03/File0075.jpg









Dự lễ mở phủ tại Bản đền Mẫu Đầm Sen




Đền Mẫu Đầm Sen 
-----------------------------------------------------------------------------
Đền Mẫu đầm Sen trước đây nằm kề bên dòng sông Tô, bên này là đầm nước rộng lớn thuộc làng Định công Thượng -  xã Định Công (xưa thuộc hạt Thường Tín) nay là quận Hoàng Mai. Tên gọi đền Mẫu đầm Sen là bởi ngôi đền này là chốn cung thờ Đức Thánh Mẫu Bàn Cảnh chốn đầm sen, quanh năm sen mọc tươi tốt, mùa hạ sen nở hoa, hương thơm toả ra ngào ngạt. Ngôi đền được xây dựng từ thời vua Hùng vương thứ 17. Tương truyền, trong một chuyến vi hành, vua Hùng vương thứ 17 đã gặp một người con gái tài sắc tại làng Định Công và lấy nàng về làm vợ, chính là vị Hoàng hậu thứ 5. Trải qua thời gian, cho đến nay ngôi đền vẫn tồn tại và trở thành một trong những ngôi đền thờ Mẫu linh thiêng. Mùa xuân đến, người người lại trở về đền làm lễ cầu may, cầu phúc, hưởng lộc của Thánh mẫu
 Một số hình ảnh lên đồng tại Bản đền Mẫu Đầm SenĐồng thầy : Phùng Minh Trí  khai đàn mở phủ cho con nhang tại bản đền Mẫu Đầm Sen ( Hà nội 04.02 âm lịch )
- Giá Quan lớn Đệ Ngũ  Tuần : Chứng đàn tiễn mã Tứ phủ
- Giá Chầu Lục Cung :  Chứng đàn sang khăn

photo :  mantico












Một số hình ảnh Đồng tân linh mới  hầu đồng  sau lễ Mở  phủ
Thanh đồng : Dương Minh Tuấn 
Giá đồng : Chầu bé Bắc Lệ / Cô bơ thoải cung / Cô Chín ( Đền Sòng
Hình ảnh : mantico
---------------------------------------------------------------------------------------