Thứ Sáu, 31 tháng 1, 2014

Đình Chèm - Ngôi đình cổ nhất Việt Nam

Đình Chèm thuộc làng Chèm, xã Thụy Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội, là ngôi đình cổ nhất Việt Nam, có niên đại cách đây hơn 2.000 năm. Đình thờ đức Thánh làng Chèm, tức Lý Thân (còn gọi là Lý Ông Trọng hay Đức Thánh Chèm).

Về Đình Chèm

Theo thần phả, Lý Ông Trọng - Đức Thánh Chèm, sinh ở làng Chèm vào thời Hùng Duệ Vương, mất vào thời Thục An Dương Vương. Ông là người có công đánh tan quân xâm lược nhà Tần dưới thời Thục An Dương Vương.

Đến đời Đường, đền thờ ông được tạo lập ngay tại nền nhà cũ. Về sau, nhân dân xây đình và tôn ông làm Thành hoàng của làng để thờ tại đình.

 
  Đình Chèm (Nguồn: Internet)
Đình Chèm (Nguồn: Internet)

Đình Chèm được xây dựng theo lối kiến trúc nội công ngoại quốc, chắc chắn và công phu: Công trình kiến trúc tam quan ngoài bố trí đầy đủ tứ linh long, ly, qui, phượng quay ra bốn hướng. Tam quan trong xây ba gian, bốn mái và năm cửa ra vào. Khu nhà bia, sân đình, tả hữu mạc, phương đình tám mái và tòa đại bái, hậu cung tạo thành hình chữ công.

Bên trong đình, các cột, mái được chạm trổ tinh vi với hình rồng cuốn thủy, rồng mây, tứ linh, cá hóa rồng, hoa lá, vân mây sóng nước mang đậm nét nghệ thuật kiến trúc thời Lê Trung hưng (thế kỷ 18). Hậu cung có án thờ, sập thờ, long ngai, bài vị, khám thờ vợ chồng ông Trọng và các tượng chầu. Tổng thể được xếp theo trục hoàng đạo Đông, Bắc, Tây, Nam.

Tại đình còn giữ được cuốn sách chữ Hán ghi các đạo sắc, lễ nghi, văn tế, cách đắp tượng dưới thời Nguyễn; ba sắc do các vua triều Nguyễn phong thần cho Lý Ông Trọng; bốn bia đá, một tấm thời Lê Cảnh Hưng và ba tấm bia thời Nguyễn; hai chuông đồng đúc dưới thời Nguyễn; 15 câu đối, tám bức hoành phi và 10 pho tượng thờ. Pho tượng Lý Ông Trọng cao hơn 3m, bằng gỗ sơn son thếp vàng rất sinh động.

Tại khuôn viên Đình Chèm có hệ thống máng dẫn nước mưa được đúc bằng đồng vào các năm 1748, 1756, thời vua Lê Hiển Tông và thời vua Minh Mệnh (nhà Nguyễn) năm 1824. Ngoài ra trong đình còn rất nhiều đồ thờ các loại đều có giá trị nghệ thuật cao như chiếc lư hương ngàn năm tuổi rất quý hiếm.

Đình Chèm đã qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa và xây thêm như hậu cung làm năm 1621, tam quan sửa lại năm 1773 và các lần trùng tu, sửa chữa đình vào các năm 1792, 1797, 1885, 1903 và 1913.

Đình Chèm nằm cạnh sông Hồng. Vào năm 1903, đình được nâng lên cao thêm 2,4m chỉ bằng các phương tiện thủ công. Cả một ngôi đình nặng hàng trăm tấn toàn bằng gỗ quý với những cột kèo phức tạp được nâng lên cao ngang với mặt đê sông Hồng khi đó.

Năm 1990, Đình Chèm được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

Hội làng Chèm

Nhắc đến hội Chèm, ca dao có câu:

"Thứ nhất là hội Cổ Loa
Thứ nhì hội Gióng, thứ ba hội Chèm"


Hội Chèm diễn ra từ ngày 14-16/5 âm lịch, trong đó ngày 15 là ngày hội chính. Hội Chèm diễn ra trang trọng với cuộc rước nước, rước mã, rước văn, lễ mộc dục (tắm tượng thánh), lễ phát tấu (cúng Phật). Lễ rước nước là trang trọng nhất.

Những người mặc y phục cổ truyền, sau khi tập kết trước cửa đình, hành hương xuống ba chiếc thuyền lớn xuôi theo sông Hồng tới Thác Bạc cạnh đền Âm hồn, rồi quay lại trước cửa đình. Quãng đường đi về khoảng 4km. Tại cửa sông diễn ra nghi thức lấy nước, ba chiếc thuyền quay ba vòng để một lão nông lấy gáo đồng múc nước trong cho vào đôn cổ. Tiếng trống, tiếng reo hò, cờ bay phấp phới cùng tiếng hô “ù éo” vang dội mặt sông trên đê.

Lấy nước xong, đoàn thuyền về Nhà Mã cách cổng đền 1km lên Bến Ngự rồi một cuộc diễu hành rầm rộ với các đoàn Phù Giá, Thủ Hiệu, Gươm Sai, Lịch Triều, Kiệu Đức Ông, Kiệu Đức Bà, Huyền Sư, Quan Viên, Chức Sắc, các bà vãi.
 
  Hội làng Chèm
Hội làng Chèm

Nhịp trống, nhịp chiêng dồn dập. Các em nhỏ múa sênh tiền rất vui mắt. Đám rước dừng lại trước sân đình đợi làm lễ Mộc dục. Lễ rước Văn tế tiến hành vào chiều tối. Văn tế đặt ở Long Đình rước từ nhà ông trưởng văn ra đình. Trong ngõ, bên đường, cạnh đê, dân làng bầy mâm cúng, hương trầm tỏa thơm. Nhà sư làm lễ phát tấu, diễn xướng kể lại công đức của Lý Ông Trọng và cầu cho mưa thuận gió hòa, sóng yên bể lặng.

Hội Chèm cho đến nay vẫn duy trì các trò chơi dân gian như bơi chải, kéo co, thả diều, thả chim bồ câu. Riêng thi bơi trải là đặc sắc. Bài ca dao cổ năm 1921 ghi:

"Ba dân mở hội tháng Năm
Mười hai hạ chải, hôm rằm bơi thi.
Ba dân đánh trống chỉ huy
Thuyền nào đạt nhất, cờ thì có mào.
Cả Thuyết đứng mũi chịu sào,
Hai Dương đánh mõ, Trương Giao phất cờ.
Lái Hành khéo lượn thủy cơ,
Dân ta đâu có được cờ mà tranh…"


“Ba dân” được đề cập ở đây là ba làng gồm làng Chèm (Thụy Phương) và hai làng kết chạ là làng Hoàng (Hoàng Xá) và làng Mạc (Liên Mạc).

Khám phá các Văn Miếu ở Việt Nam

Văn Miếu là nơi thờ Khổng Tử - người được xem là “khai sáng” của Nho giáo và Nho học cùng các học trò xuất sắc của người. Ở Việt Nam, kể từ Văn Miếu đầu tiên được xây dựng ở Hà Nội năm 1070 (tháng 8 năm Canh Tuất), các triều đại phong kiến tiếp theo đã cho dựng xây Văn Miếu ở nhiều vùng miền trải dài từ Bắc vào Nam đất nước. Sự hình thành các Văn Miếu chính là biểu thị của tư tưởng chủ đạo trong việc tôn vinh truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của dân tộc ta.
Văn Miếu Quốc Tử Giám - Hà Nội

Đây là Văn Miếu đầu tiên của nước ta, được vua Lý Thánh Tông cho xây dựng tháng 10/1070. Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám ở bên cạnh Văn Miếu, có thể coi đây là trường Đại học đầu tiên ở Việt Nam.

Văn Miếu - Quốc Tử Giám được xem như là biểu tượng của tri thức, của nền giáo dục Việt Nam. Đây là nơi thờ phụng các bậc Tiên thánh, Tiên sư của đạo Nho và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An - người thầy tiêu biểu về đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam.
 
 Mỗi dịp Xuân về, người dân khắp nơi háo hức đến dâng hương tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám
Mỗi dịp Xuân về, người dân khắp nơi háo hức đến dâng hương tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám

Quần thể di tích gồm: Hồ Văn, Vườn Giám và Khu nội tự. Văn Miếu - Quốc Tử Giám thiết kế bởi nhiều lớp nhà và lớp cửa cách nhau 5 cái sân: Tam quan qua sân thứ nhất. Đại trung môn có hai cổng nhỏ vào sân thứ hai. Khuê Văn Các có hai cổng nhỏ vào sân thứ ba. Tiếp đến là Hồ Thiên Quang Tĩnh và Cửa Đại Thành vào sân thứ tư. Khu chính của Văn Miếu gồm hai nếp nhà chính cách nhau cũng bằng cái sân, mái lợp ngói cổ. Nếp nhà trong là Chính tẩm thờ Khổng Tử và học trò. Khu nhà Đại Bái hai bên tả, hữu treo thờ tranh vẽ tiên hiền, tiên Nho. Qua sân thứ năm là nhà Thái Học (thờ cha, mẹ Khổng Tử).

Đây là nơi lưu danh các bậc hiền tài qua các khoa thi, thể hiện ở 82 tấm bia tiến sĩ (được UNESCO công nhận là Di sản Ký ức nhân loại năm 2010). Cứ sau mỗi khoa thi từ năm 1442 đến 1779, người xưa lại dựng lên các tấm bia đá trên lưng rùa, khắc tên những người đỗ đạt.

Ngày nay, đây là nơi Nhà nước tổ chức trao các học hàm, học vị giáo sư, viện sĩ, tiến sĩ cho những trí thức, là nơi khen tặng cho học sinh, sinh viên xuất sắc và còn là nơi tổ chức hội thơ hàng năm vào ngày Rằm tháng Giêng. Đặc biệt, trước mỗi kỳ thi, các sĩ tử đến đây “xin lộc”, “cầu may” . Mỗi dịp Xuân về, người dân khắp nơi háo hức đến dâng hương tại Văn Miếu với mong muốn học hành tấn tới, “công thành, danh toại”, xin chữ lấy may trên phố "ông đồ" bên khu vực Văn Miếu.

Với kiến trúc cổ xưa và những giá trị nhân văn độc đáo, Văn Miếu - Quốc Tử Giám chính là gạch nối lịch sử của Hà Nội xưa và nay, góp phần làm giàu thêm kho tàng văn hóa của dân tộc.

Văn Miếu Mao Điền - Hải Dương

Văn Miếu Mao Điền được xây dựng từ thời Lê Sơ (Thế kỷ XV) tại làng Mậu Tài, xã Cẩm Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Tên gọi Mao Điền xuất phát từ đặc điểm Văn Miếu xưa vốn nằm trên một vùng đất bằng phẳng có nhiều cỏ lau (Mao: cỏ lau, Điền: ruộng cấy).
 
  Văn Miếu Mao Điền
Văn Miếu Mao Điền

Vào thời Tây Sơn (1788 - 1802), Văn Miếu được hợp nhất với trường thi Hương của tỉnh Hải Dương. Công trình rộng 3,6 ha này được xây dựng theo hướng Nam gồm các hạng mục: Bái đường, Hậu cung mỗi toà 7 gian, xây theo kiểu chữ Nhị, Đông vu, Tây vu, gác Khuê Văn, gác Chuông, gác Khánh, đài Nghiên, tháp Bút, Nghi môn, Thiên Quang tỉnh và Khải thánh thờ thân phụ và thân mẫu của Khổng Tử. Tại đây đã đào tạo hàng ngàn cử nhân, tiến sỹ Nho học đứng vào hàng đầu cả nước. Nếu chỉ tính số người đỗ Đại khoa trong 185 kỳ thi (từ năm 1075 - 1919), cả nước có 2.898 tiến sỹ thì trấn Hải Dương có 637 vị, trong số 46 Trạng nguyên, Hải Dương có 12 người.

Hàng năm, từ xưa đến nay, trấn Hải Dương đều tổ chức lễ tế Khổng Tử, các quan đầu trấn, đầu phủ cùng cử nhân, tiến sĩ về làm lễ trọng thể, nêu cao truyền thống hiếu học của tỉnh.

Văn Miếu Xích Đằng - Hưng Yên

Nằm cạnh con sông Hồng quanh năm đỏ nặng phù sa, Văn Miếu Xích Đằng được biết đến là một di tích quan trọng nằm trong quần thể di tích Phố Hiến, thuộc làng (thôn) Xích Đằng, phường Lam Sơn, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.

Công trình được xây dựng vào năm 1832, trước đây là nơi tổ chức các kỳ thi của trấn Hưng Yên. Với hơn 400 năm tồn tại, ghi danh 161 vị đại khoa, Văn Miếu Xích Đằng đã thể hiện tinh thần hiếu học của con người trên mảnh đất “Nhất Kinh Kỳ, nhì Phố Hiến”.

Tam quan (Nghi môn) của Văn Miếu Xích Đằng là một trong những công trình còn giữ được những nét kiến trúc độc đáo trong các Văn Miếu còn lại ở Việt Nam. Được dựng theo lối kiến trúc chồng diêm, hai tầng tám mái có lầu gác. Hai bên Tam quan có hai bục loa, dùng để xướng danh sĩ tử và thông báo những quy định trong các kỳ thi hương. Khu nội tự có mặt chính quay về hướng Nam, được thiết kế theo kiểu chữ “Tam”, gồm:Tiền tế, Trung từ và Hậu cung. Hệ thống mái được kết cấu theo kiểu “trùng thiềm điệp ốc”.
 
  Nghi môn của Văn Miếu Xích Đằng
Nghi môn của Văn Miếu Xích Đằng

Khác với Văn Miếu Quốc Tử Giám, Văn Miếu Mao Điền, ở Văn Miếu Xích Đằng lầu trống được thay bằng lầu chuông. Tiếng chuông và tiếng khánh vang lên chính là lúc báo hiệu giờ thi đã bắt đầu và kết thúc, đồng thời nó cũng là tiếng cầu thỉnh tỏ lòng biết ơn, tri ân với những bậc hiền Nho trong mỗi dịp lễ hội. Hai chiếc chuông và khánh của Văn Miếu cũng là những di vật cổ được đúc và tạo dựng từ thế kỷ 18.

Hằng năm, khi mùa xuân về, tại Văn Miếu tổ chức rất nhiều các hoạt động giao lưu, sinh hoạt văn hóa, lễ hội truyền thống. Đây cũng là dịp mà người con Hưng Yên nói riêng và các du khách thập phương kéo về dự hội tại Xích Đằng rất nhộn nhịp.

Văn Miếu Bắc Ninh

Văn Miếu Bắc Ninh được xây dựng từ thời Lê Sơ ở núi Châu Sơn, huyện Thị Cầu. Sau nhiều lần sửa chữa, tu bổ, năm 1884 Văn Miếu được xây dựng lại, năm 1893 được chuyển về vị trí hiện nay (xóm 10, Đại Phúc, Bắc Ninh).

Kiến trúc Văn Miếu gồm: Tiền tế (5 gian), Hậu đường (5 gian), Bi đình (3 gian), hai bên sân trước Tiền Tế là nhà Tả Vu, Hữu Vu. Chính diện có bức bình phong “Bắc Ninh tỉnh trùng tu Văn Miếu bi ký” khắc dựng năm 1928. Toàn bộ công trình được xây dựng bằng gỗ lim được bào trơn đóng bén rất tinh tế và cổ kính.
 
 Bức bình phong “Bắc Ninh tỉnh trùng tu Văn Miếu bi ký” dựng năm 1928 trong Văn Miếu Bắc Ninh
Bức bình phong “Bắc Ninh tỉnh trùng tu Văn Miếu bi ký” dựng năm 1928 trong Văn Miếu Bắc Ninh

Văn Miếu Bắc Ninh là nơi thờ Khổng Tử, Tứ Phối và 12 tấm bia lưu giữ khoa danh của 677 vị tiến sĩ quê hương Kinh Bắc xưa. Công trình là đại diện tiêu biểu nhất cho giá trị truyền thống và sự học vẻ vang của miền đất văn hiến này.

Văn Miếu Vinh - Nghệ An

Đây có lẽ là công trình được ít người biết đến nhất trong số các Văn Miếu được xây dựng ở Việt Nam, bởi đến nay chỉ còn là phế tích nằm ở phường Hồng Sơn, thành phố Vinh, Nghệ An.

Theo sử sách ghi chép lại, Văn Miếu Vinh ra đời vào khoảng những năm đầu thế kỷ XIX. Văn Miếu là điểm sinh hoạt văn hóa truyền thống, nơi hội tụ các văn sỹ, Nho sỹ, các tao nhân mặc khách thành Vinh xưa và các vùng phụ cận. Từ khi có Văn Miếu Vinh, phong trào hiếu học ở Nghệ An ngày càng phát triển, đạt đến mức trường thi hương xứ Nghệ trở thành một trung tâm khoa bảng rực rỡ nhất trong bảy trung tâm thi Hương của đất nước.
 
  Miếu Khổng Tử-Vinh (ảnh tư liệu -1929)
Miếu Khổng Tử-Vinh (ảnh tư liệu -1929)

Theo lời kể của nhiều vị cao niên sinh sống gần di tích, Văn Miếu ngày đó nguy nga, khang trang, có nhà Thượng điện, Hạ điện, xung quanh là hồ cá, giếng thiên tĩnh, vườn cây cảnh và rừng cây. Trải qua thời gian, biến cố thay đổi, nay di tích chỉ còn lại tòa Đại bái gồm 5 gian, 9 cột gỗ lim, mái trải rui bản lợp ngói mũi hài...Hy vọng rằng, trong thời gian tới đây, Văn Miếu Vinh sớm được phục hồi, tôn tạo để nối tiếp truyền thống hiếu học trên đất Nghệ.

Văn Miếu Huế

Văn Miếu Huế hay Văn Thánh Miếu được xây dựng năm 1808, dưới triều vua Gia Long, thuộc địa phận thôn An Bình, làng An Ninh, phía Tây Kinh thành Phú Xuân cũ.

Toàn bộ kiến trúc chính của Văn Miếu đều được dựng trên ngọn đồi cao gần 3m so với nền đất xung quanh, trước mặt là sông Hương, phía sau là làng mạc, núi đồi. Các công trình được xây dựng trong mặt bằng hình vuông: mỗi cạnh chừng 160m, xung quanh xây la thành bao bọc. Tất cả có 50 công trình kiến trúc lớn nhỏ, đặc biệt là 32 tấm bia khắc tên 293 vị tiến sĩ thi đỗ trong 39 kỳ thi Hội, thi Đình tổ chức dưới triều Nguyễn và 4 tấm bia khác.
 
  Văn Thánh Miếu ở Huế
Văn Thánh Miếu ở Huế

Từ cổng Đại Thành vào bên trong, chính giữa Văn Miếu là Đại Thành Điện thờ Khổng Tử có cấu trúc phỏng theo lối trùng thiềm điệp ốc truyền thống của Huế. Hai bên là Đông Vu và Tây Vu, đều có bảy gian để thờ thất thập nhị hiền và các tiên Nho. Trước sân miếu có hai nhà bia, bia bên phải khắc văn bia của Thánh Tổ Nhân Hoàng đế (vua Minh Mạng), bia bên trái khắc bài văn bia của Hiến Tổ Chương Hoàng đế (vua Thiệu Trị).

Ngoài cổng Đại Thành, bên trái có Hữu Văn Đường, bên phải có Dị Lễ Đường, là những ngôi nhà kiểu một gian hai chái dùng để vua quan nghỉ chân sửa soạn lễ phục trước khi vào tế ở Miếu.

Ngoài ra, Văn Miếu còn có các công trình khác như: Thần trù (nhà bếp), Thần khố (nhà kho), Văn Miếu môn... Các tòa nhà đều được xây dựng bằng gỗ lim, kiến trúc, trang trí đăng đối, uy nghi.

Văn Miếu đã trở thành một điểm đến tham quan của rất đông du khách trong và ngoài nước, đặc biệt là các bạn trẻ với mong muốn được lưu danh bảng vàng như những danh sĩ đã được khắc tên tại các bia Tiến sĩ ở Văn Miếu.

Văn Miếu Diên Khánh - Khánh Hòa

Công trình văn hóa được xây dựng từ năm 1853, ở khóm Phú Lộc Tây, huyện Diên Khánh, đây là nơi thờ Khổng Tử và lưu giữ tên tuổi nhiều nhân tài của Khánh Hòa. Qua thời gian, Văn Miếu đã được tu sửa nhiều lần nhưng vẫn giữ được kiến trúc ban đầu: phía trước có nhà Bi đình, chính giữa có tòa Tiền đường và Chánh đường cao rộng, làm bằng gỗ xây tường gạch bao, các cột kèo được chạm trổ sơn son thếp vàng đẹp đẽ, uy nghiêm.
 
 Văn Miếu Diên Khánh
Văn Miếu Diên Khánh

Hiện nay, Văn Miếu Diên Khánh còn giữ được 2 tấm bia đá thời Tự Đức ghi lại quá trình hoàn thiện khu Văn Miếu và đời sống sinh hoạt, văn hóa, lịch sử của Khánh Hòa. Ngoài ra, ở Bái đường của Văn Miếu Diên Khánh còn có một bài minh nói về về sự đỗ đạt của các vị văn võ, khoa bảng, hào mục, chức sắc và các học sinh địa phương từ đầu triều Nguyễn đến thời Tự Đức.

Văn Miếu Diên Khánh còn là điểm liên lạc, dừng chân của các chiến sĩ cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Với những giá trị văn hóa, lịch sử đó, Văn Miếu Diên Khánh đã được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia.

Văn Miếu Trấn Biên - Đồng Nai

Văn Miếu Trấn Biên được xây dựng vào đời vua Hiển Tông năm Ất Vị thứ 25 (tức năm 1715). Công trình được Trấn thủ Nguyễn Phan Long và Ký lục Phạm Khánh Đức cho xây dựng tại thôn Bình Thành và Tân Lại, tổng Phước Vĩnh (nay là phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa, Đồng Nai).

Theo sách "Ðại Nam nhất thống chí" của Quốc sử quán triều Nguyễn miêu tả, Văn Miếu Trấn Biên được ghi nhận là Văn Miếu được xây dựng sớm nhất ở miền Nam (mặc dù ra đời sau Văn Miếu Quốc Tử Giám hơn 700 năm).  Khi quân Pháp đánh chiếm Biên Hòa năm 1861, chúng đã phá hủy hoàn toàn Văn Miếu Trấn Biên nhằm dập tắt tinh thần yêu nước của người dân Nam Bộ. Đến năm 1998, một công trình mới mang tên Văn Miếu Trấn Biên được khởi công khôi phục lại trên nền Văn Miếu cũ.
 
Văn Miếu Trấn Biên
Văn Miếu Trấn Biên

Nổi bật trong kiến trúc Văn Miếu là những vòm mái cong, lợp ngói lưu ly màu xanh ngọc bằng gốm tráng men, có lầu bia uy nghi tráng lệ. Từ cổng vào là nhà bia, Khuê Văn Các, hồ Tịnh Quang, Tam quan, nhà bia thứ hai và nhà thờ chính. Đặc biệt, bia tiến sĩ được khắc bằng đá xanh với câu nói nổi tiếng của Thân Nhân Trung: "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia".

Nhà thờ chính xây dựng kiểu nhà ba gian hai chái, theo kiến trúc cổ: Đặt bàn thờ Bác Hồ ở gian giữa, trên tường có biểu tượng trống đồng tượng trưng cho nền văn hóa Việt Nam và Quốc Tổ Hùng Vương. Trong gian thờ chính có trưng bày 18kg đất và 18 lít nước mang về từ đền Hùng, biểu trưng cho 18 đời Vua Hùng, cội nguồn của dân tộc.

Trong Văn Miếu Trấn Biên thì đặt bàn thờ đức Khổng Tử, bàn thờ Quốc tổ và Lịch đại đế vương. Gian bên trái thờ các danh nhân Chu Văn An, Nguyễn Trãi và Lê Quý Ðôn. Gian bên phải thờ Võ Trường Toản, Ðặng Ðức Thuật và ba vị anh hào "Gia Ðịnh tam kiệt": Trịnh Hoài Ðức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Ðịnh.

Văn Miếu Trấn Biên là nơi bảo tồn, gìn giữ, tôn vinh các giá trị văn hóa - giáo dục từ xưa đến nay của Nam Bộ nói riêng và của cả nước nói chung. Hàng ngày có rất nhiều các bạn trẻ và du khách thường xuyên tham quan và viếng lễ tại đây.

Văn Thánh Miếu - Vĩnh Long

Văn Thánh Miếu Vĩnh Long là một trong ba Văn Thánh Miếu được xây dựng đầu tiên ở Nam bộ gồm: Văn Thánh Miếu ở Biên Hòa, Gia Định và Vĩnh Long, tọa lạc tại làng Long Hồ, nay thuộc phường 4, TP Vĩnh Long.

Khoảng cuối thế kỷ XIX, các sĩ phu ở Biên Hòa, Gia Định, Định Tường không chịu làm tay sai cho Pháp và để giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc nên họ đã rời khỏi Gia Định, Biên Hòa để về Vĩnh Long tỵ địa. Họ đã xây dựng Văn Thánh Miếu để làm nơi ôn tập cho các sĩ tử và cũng là nơi để hoạt động văn hóa, đề cao các tiền hiền, giáo dục lòng yêu nước cho nhân dân. Công trình nổi tiếng này được xây dựng từ năm 1864 và hoàn thành cuối năm 1866 với sự chủ trì của Kinh lược đại thần Phan Thanh Giản, Đề học Nguyễn Thông, sự đóng góp của nhiều đại thần cựu trào cùng sĩ phu và nhân dân ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.
 
 Văn Xương Các trong Văn Thánh Miếu Vĩnh Long
Văn Xương Các trong Văn Thánh Miếu Vĩnh Long
Từ đó đến nay, Văn Thánh Miếu Vĩnh Long được trùng tu, tôn tạo vào các năm 1872, 1903, 1914, 1933, 1963 và 1994. Tuy đã nhiều lần được trùng tu, tôn tạo nhưng Văn Thánh Miếu Vĩnh Long vẫn giữ được vẻ đẹp tôn quý, thanh cao. Trước cổng đền là tấm bia ghi văn tài của cụ Phan Thanh Giản, mặt trước nêu lý do dựng miếu, xưng tụng công đức Thánh Nhân và triều đình, mặt sau dương danh những người có công. Hai bia khác đứng gần nhau ở phía ngoài nói về những nhân sĩ, thân hào và người có công trùng tu, cúng hiến cho Văn Thánh Miếu. Hai công trình quan trọng ở khu di tích này là Khổng Thánh Miếu và Văn Xương Các.

Trong năm, Văn Thánh Miếu có các ngày lễ lớn: Tế Khổng Tử và các vị Thánh hiền vào ngày Xuân Đinh và Thu Đinh (ngày Đinh đầu tháng Hai và ngày Đinh đầu tháng Tám). Ngày lễ giỗ Phan Thanh Giản (mùng bốn và mùng năm tháng Bảy), ngày giỗ các quan đại thần (12 và 13 tháng Mười Âm lịch). Đến với Lễ hội Văn Thánh Miếu hằng năm là để trải lòng thành kính các bậc tiền nhân, yêu quý hơn truyền thống yêu nước và cảm nhận nét văn hóa cộng cư đặc sắc của người xưa, cho đến nay và chắc chắn rằng mãi mãi về sau vẫn còn nguyên giá trị.

Văn Miếu Nghệ An


Văn miếu Nghệ An là một ngôi miếu nhỏ có từ lâu đời. Năm Gia Long thứ hai (1803) được nâng cấp, trùng tu và từ đó gọi là Văn Thánh Vinh, thuộc địa phận xã Yên Dũng, huyện Hưng Nguyên, tổng Yên Trường, trấn Nghệ An (nay là phường Hồng Sơn, TP Vinh). Văn miếu Nghệ An thờ Khổng Tử, Chu Văn An và các bậc hiền triết đã có công sáng lập, truyền bá, phát triển Nho giáo, đồng thời là nơi để tôn vinh các nhà khoa bảng Nghệ An.
Chuông đồng cổ lớn của Văn miếu Vinh, nặng 522 cân ta, cao 1,5m, phần quai chuông được tạo dáng 2 con rồng, miệng ngậm ngọc, thân chuông có khắc bài kí của tiến sĩ Bùi Dương Lịch biên soạn vào năm Gia Long thứ 12 (được lưu giữ tại đền Hồng Sơn).
Từ khi xây dựng đến nửa đầu thế kỷ XX, Văn miếu Nghệ An gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử, văn hóa của quê hương. Đây là một trong những điểm sinh hoạt văn hóa truyền thống, nơi gặp gỡ của các nho sỹ, tao nhân, mặc khách trong hội tư văn, nơi giảng sách, bình văn, tổ chức sát hạch thí sinh hàng tỉnh, diễn ra lễ cầu khoa, cầu tài, cầu lộc. Văn miếu cũng là nơi ra đời và là trụ sở của tổ chức "Hoan Châu học chính", một chi nhánh của Đông Kinh nghĩa thục ở Nghệ An những năm đầu của thế kỉ XX.
Chứng tích còn lại với đất thiêng
Tiếc rằng, do thiên nhiên, chiến tranh và các biến cố xã hội khác nên Văn miếu Nghệ An hiện nay chỉ còn phế tích. Năm 1959, vùng đất này đã được UBND tỉnh giao cho Xưởng In (nay là Công ti CP In Nghệ An) sử dụng và chia cho dân làm nhà ở.
Quá trình cải tạo, xây dựng lại thành phố Vinh sau chiến tranh đã làm cho Văn miếu bị thu hẹp, chỉ còn lại khoảng 1/3 so với diện tích trước đây (trên 7.000m2). Các công trình cổ như hồ nước, tam quan, bái đường, tả, hữu vu, giếng Thiên Tĩnh, đường đi, vườn cây... đã bị phá dỡ. Nhà thượng điện 5 gian đã được Công ti CP In cải tạo làm kho sách là công trình duy nhất của Văn miếu còn tồn tại.
Nhà đại bái của Văn miếu xưa đã được Công ty CP In xây dựng thành nhà kho.
Tại đền Hồng Sơn - nơi đang lưu giữ một số hiện vật của Văn miếu xưa, ngay bên trái trước sân đền là nhà chuông, bên trong treo chiếc chuông đồng lớn cao 1,5m cùng bức hoành phi bằng gỗ sơn son thiếp vàng khắc nổi 3 chữ "Văn tại tư" do tiến sĩ Phạm Liệu quê Nghệ An làm quan ở Quảng Nam cúng tiến vào Văn miếu. Ngoài ra còn có ba bài vị cổ sơn son thờ Khổng Tử, Mạnh Tử và Nhan Tử cũng được lưu giữ tại đây.
Anh Nguyễn Quang Toàn, Phó Giám đốc Công ti In Nghệ An, cho biết đất Văn miếu Nghệ An còn gọi là Văn thánh Vinh rất linh thiêng. Một người đàn ông trong vùng lấy hòn đá kê cột nhà Văn Thánh về dùng vào việc không sạch sẽ, đã bị chết. Người đàn ông thứ hai lại khiêng về làm đường đi, bị gãy chân. Người thứ ba lấy một đoạn hoành về làm giàn, một thời gian sau bỗng nhiên bỏ nhà đi...
Còn việc học hành của con em khối 10 phường Hồng Sơn là địa điểm của nhà Văn Thánh xưa thì luôn dẫn đầu phường. Hàng năm có tới vài ba chục em vào đại học. Mỗi lần thi cử, người dân trong vùng thường vào thắp hương tại khu nhà thượng điện (hiện nay là kho sách của Công ti In) để con em thêm quyết tâm, nghị lực, vững lòng, sáng dạ làm bài tốt.
Phục hồi Văn miếu, biết đến bao giờ?
Chủ trương phục hồi Văn miếu Nghệ An có từ năm 1996, nhưng vì phải huy động một khoản tiền khá lớn nên đành dừng lại. Năm 1999, trước hiện trạng Văn miếu đang mất dần, Sở Văn hóa Thông tin Nghệ An đã giao cho Bảo tàng Nghệ An lập hồ sơ công nhận di tích để khoanh vùng bảo vệ, đồng thời Sở cũng làm việc với Nhà máy In để có phương án bảo vệ di tích.
Những cây cột gỗ lim còn lại của nhà đại bái.
Sau đó UBND tỉnh đã có công văn số 6707/UBND-VX ngày 29/12/2004 giao Sở VHTT chủ trì cùng Sở Xây dựng, UBND thành phố Vinh tham mưu cho UBND tỉnh về việc phục dựng lại Văn miếu Nghệ An. Năm 2005, dự kiến phục dựng văn miếu trên diện tích 3,5 ha bao gồm Công ti CP In, bệnh viện thành phố Vinh và các hộ dân trong vùng. Tuy nhiên, phương án này không khả thi vì phải giải phóng một diện tích đất quá lớn.
Đến năm 2007, để có cơ sở khoa học tiến hành việc phục dựng Văn miếu, UBND tỉnh đã tổ chức hội thảo về việc xác định địa điểm và phương án phục dựng di tích Văn miếu. Ngành Văn hóa cũng đã tổ chức nhiều cuộc đi khảo sát văn miếu các tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Quốc Tử Giám...
Ngày 20/6/2011, UBND tỉnh Nghệ An có công văn số 3406/UBND-CN giao cho Sở VHTT&DL làm chủ đầu tư dự án, tổ chức lập quy hoạch chi tiết xây dựng; giao UBND thành phố Vinh tổ chức bồi thường giải phóng mặt bằng và tái định cư dự án, kinh phí do ngân sách tỉnh cấp, báo cáo phương án GPMB, tái định cư về UBND tỉnh trước ngày 30/7/2011.
Hòn đá kê cột của Văn miếu Vinh, người dân đem về dùng “không ổn” nên đã đem trả lại.
Địa điểm phục dựng Văn miếu đã được xác định nhưng lại “vướng” công tác GPMB. Công ti CP In đề nghị tỉnh khẩn trương có quyết định chính thức, để công ti sớm ổn định, có kế hoạch phát triển sản xuất. Một số hộ dân trong diện dự định giải tỏa như ông Nguyễn Văn Ban, chị Lê Hồng Minh... nhà ở đường Ngô Đức Kế thì cho rằng: Cứ đúng luật mà làm, chuyển đến chỗ khác tương đương như ở đây là được. Tuy nhiên, khu đất tại vị trí GPMB là “khu đất vàng” có giá trị thực tế rất cao, việc giải tỏa mặt bằng không hề đơn giản. Ngoài ra, mô hình Văn miếu như thế nào cũng còn nhiều ý kiến khác nhau.
Như vậy, nếu không có những giải pháp đồng bộ, quyết liệt từ cơ quan chức năng thì thời gian Văn miếu Vinh được phục dựng sẽ còn chưa biết đến bao giờ.



KINH THÀNH HUẾ

Kinh thành (vòng thành ngoài) của Huế được xây dựng dưới thời vua Gia Long và Minh Mạng, bắt đầu vào mùa hè năm 1805 và kết thúc vào năm 1832.Việc quy hoạch Kinh thành diễn ra trong 2 năm 1803-1804, chủ yếu là do chính vua Gia Long và đại thần Nguyễn Văn Yến đi khảo sát thực địa, hoạch định mô thức kiến trúc và mặt bằng xây dựng.So với Đô thành Phú Xuân vào cuối thời các chúa Nguyễn và được tiếp tục sử dụng dưới thời Tây Sơn (1786-1801), mặt bằng của Kinh thành được mở rộng hơn rất nhiều. Khi qui hoạch mặt bằng trên bản thiết kế, địa bàn của Kinh thành nằm chồng lên hai đoạn khá dài của 2 chi lưu bên tả ngạn sông Hương. Đó là sông Kim Long và sông Bạch Yến, đồng thời bao gồm địa phận của 8 làng vốn được thành lập trước đó mấy thế kỷ. Đó là các làng Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Thái, An Vân, An Hoà, An Mỹ, An Bảo và Thế Lại.Dựa vào các nguyên tắc địa lý phong thủy của phương Đông và thuyết Âm Dương, Ngũ Hành của Dịch học, các nhà kiến trúc thời ấy đã bố trí kinh thành quay mặt về phía Nam, chọn núi Ngự Bình làm tiền án (bình phong) và cồn Hến, cồn Dã Viên trên sông để làm thế “Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ” chầu vào trước mặt Kinh thành.
Trong đợt thi công đầu tiên vào mùa hè năm 1805, triều Nguyễn đã huy động khoảng 30.000 dân và lính ở các tỉnh miền Trung về Huế để ngăn sông, đào hào và đắp một cái thành sơ khởi bằng đất. Công việc tiếp diễn trong nhiều năm. Đến năm 1818 thì số lính và dân công lên đến 80.000 người. Họ bắt đầu xây gạch ốp vào mặt tiền (phía Nam) và mặt hữu (phía Tây) của Kinh thành. Còn mặt tả (phía Đông) và mặt hậu (phía Bắc) thì được xây gạch ốp năm 1822. Sau đó vua Minh Mạng tiếp tục cho xây thêm tường bắn ở đỉnh mặt ngoài của vòng thành vào các năm 1831, 1832.Kinh thành Huế có dạng mặt bằng gần như là một hình vuông, chỉ riêng mặt trước hơi khum ra như hình cánh cung, vì mặt thành này phải chạy theo chiều uốn nhẹ của đoạn sông Hương chảy qua trước mặt nó.
Chu vi của vòng thành xây bó bằng gạch là 10.571 m. Bề dày trung bình của thân thành là 21,50 m, bao gồm bề dày của phần mô thành đắp bằng đất ở giữa là 18,50 m và lớp gạch xây bó ở mặt ngoài là 2m và lớp gạch xây bó ở mặt trong là 1m. Trên thành (thường được gọi là trên thượng thành) không phải là một mặt phẳng, mà được đắp giật cấp, tạo thành 3 dải đất thấp dần kể từ ngoài vào phía Thành Nội. Mặt thành ngoài cao 6,60 m, mặt thành trong chỉ cao 2,10 m. Diện tích của địa bàn Thành Nội là 520 ha (tức là 5,20 km2).Chung quanh Kinh thành có 10 cửa được xây dựng vào năm 1809. Nhưng những vọng lâu hai tầng bên trên các cửa thành thì đến những năm 1824, 1829 và 1831 mới được thực hiện. Ngoài 10 cửa chính, Kinh thành còn có một cửa phụ, không xây vọng lâu bên trên, dùng để thông thương với Trấn Bình đài; và 2 thuỷ quan ở 2 đầu của Ngự hà để cho dòng nước của sông này lưu thông với hệ thống hào, Hộ Thành hà và sông Hương.
Các cửa thành đã được triều đình đặt tên riêng tuỳ theo phương hướng từ trung tâm Thành Nội nhìn ra, ví dụ: Chánh Đông môn, Đông Nam môn, Chánh Nam môn, Tây Nam môn, Chánh Bắc môn, Đông Bắc môn… Nhưng, dân chúng địa phương thì lại dùng những địa danh khác, giản dị và nôm na hơn, để gọi tên cho dễ nhớ: cửa Đông Ba, cửa Thượng Tứ, cửa Nhà Đồ, cửa Hữu, cửa Hậu, cửa Kẻ Trài…
Trên mặt thành đều có xây các pháo đài, giác bảo, pháo nhãn, tường bắn, vọng lâu… để canh gác, phòng thủ. Ở chính giữa mặt Kinh thành phía trước có Kỳ đài cao lớn, uy nghi.
Bên ngoài vòng thành được xây dựng rất chắc chắn ấy, còn có 2 tuyến đường thuỷ là hào, Hộ Thành hà; và một tuyến chiến luỹ được thiết lập ở dải đất nằm giữa 2 tuyến đường thuỷ ấy. Cả 3 tuyến này đều chạy dọc theo 4 mặt của Kinh thành để hỗ trợ cho nó. Có nhiều chiếc cầu bắc qua 2 tuyến đường thuỷ, nhất là trước mặt các cửa thành, để giữ chức năng giao thông về đường bộ trên địa bàn Kinh thành, và giữa địa bàn này với vùng phụ cận; chẳng hạn như cầu Thanh Long, cầu Bạch Hổ, cầu Gia Hội, cầu Đông Ba…Kinh thành Huế được xây dựng trên cơ sở kết hợp các nguyên tắc kiến trúc của phương Đông với kỹ thuật bố phòng quân sự theo kiểu thành lũy của Vauban (Pháp) và vận dung một cách khéo léo, thích ứng vào điều kiện địa hình tại chỗ nên nó đã trở thành một tác phẩm kiến trúc nghệ thuật quân sự độc đáo, một kỳ quan văn hóa của dân tộc.
Mặc dù đã chịu đựng sự tàn phá của thời gian gần 2 thế kỷ và nhất là bom đạn trong chiến tranh, Kinh thành Huế vẫn tồn tại hầu như đầy đủ diện mạo của nó. Mang giá trị cao về nhiều phương diện, toà thành cổ này đã được Nhà nước công nhận là Di tích Lịch sử – Văn hoá Quốc gia vào ngày 12-5-1998 và được UNESCO xem là một trong những công trình kiến trúc nghệ thuật quan trọng nhất thuộc Quần thể Di tích Huế, Di sản Thế giới.
Ngọ Môn :



Kỳ Đài :























CÁC NGÔI THÀNH CỔ Ở VIỆT NAM

1

  1. 1
  2. Thành Cổ Loa-Cổ Loa  kinh đô của nhà nước phong kiến Âu Lạc, dưới thời An Dương Vương vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên và của nhà nước dưới thời Ngô Quyền thế kỷ 10 sau Công nguyên.
    Hiện nay, di tích Cổ Loa thuộc xã Cổ Loahuyện Đông AnhHà Nội.Vào thời Âu Lạc, Cổ Loa nằm vào vị trí đỉnh của tam giác châu thổ sông Hồng và là nơi giao lưu quan trọng của đường thủy và đường bộ. Từ đây có thể kiểm soát được cả vùng đồng bằng lẫn vùng sơn địa. Cổ Loa là một khu đất đồi cao ráo nằm ở tả ngạn sông Hoàng. Con sông này qua nhiều thế kỷ bị phù sa bồi đắp và nay đã trở thành một con lạch nhỏ, nhưng xưa kia sông Hoàng là một con sông nhánh lớn quan trọng của sông Hồng, nối liền sông Hồng với sông Cầu, con sông lớn nhất trong hệ thống sông Thái Bình. Như vậy, về phương diện giao thông đường thủy, Cổ Loa có một vị trí vô cùng thuận lợi hơn bất kỳ ở đâu tại đồng bằng Bắc Bộ vào thời ấy. Đó là vị trí nối liền mạng lưới đường thủy của sông Hồng cùng với mạng lưới đường thủy của sông Thái Bình. Hai mạng lưới đường thủy này chi phối toàn bộ hệ thống đường thủy tại Bắc bộ Việt Nam. Qua con sông Hoàng, thuyền bè có thể tỏa đi khắp nơi, nếu ngược lên sông Hồng là có thể thâm nhập vào vùng Bắc hay Tây Bắc của Bắc Bộ, nếu xuôi sông Hồng, thuyền có thể ra đến biển cả, còn nếu muốn đến vùng phía Đông Bắc bộ thì dùng sông Cầu để thâm nhập vào hệ thống sông Thái Bình đến tận sông Thương và sông Lục Nam.
    Địa điểm Cổ Loa chính là Phong Khê, lúc đó là một vùng đồng bằng trù phú có xóm làng, dân chúng đông đúc, sống bằng nghề làm ruộng, đánh cá và thủ công nghiệp. Việc dời đô từ Phong Châu về đây, đánh dấu một giai đoạn phát triển của dân cư Việt cổ, giai đoạn người Việt chuyển trung tâm quyền lực từ vùng Trung du bán sơn địa về định cư tại vùng đồng bằng. Việc định cư tại đồng bằng chứng tỏ một bước tiến lớn trong các lãnh vực xã hội, kinh tế trong giao tiếp, trao đổi con người dễ dàng đi lại bằng đường bộ hay bằng đường thủy; trong nông nghiệp có bước tiến đáng kể về kỹ thuật trồng lúa nước, mức độ dân cư cũng đông đúc hơn.
    Trung tâm quyền lực của các cư dân Việt ở đồng bằng sông Hồng cũng thể hiện sự phát triển về chiều rộng của Văn hóa Đông Sơn.Thành Cổ Loa được xây bằng đất do thời ấy ở Âu Lạc chưa có gạch nung. Thành có 3 vòng. Chu vi ngoài 8 km, vòng giữa 6,5 km, vòng trong 1,6 km... Diện tích trung tâm lên tới 2 km². Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó. Mặt ngoài lũy, dốc thẳng đứng, mặt trong xoải để đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ. Lũy cao trung bình từ 4-5 m, có chỗ 8–12 m. Chân lũy rộng 20–30 m, mặt lũy rộng 6–12 m. Khối lượng đất đào đắp ước tính 2,2 triệu mét khối. Khu vực Cổ Loa được coi là một nền đất yếu nên việc xây dựng thành Cổ Loa có thể khó khăn và thành bị đổ nhiều lần là dễ hiểu. Khi xẻ dọc thành để nghiên cứu, các nhà khảo cổ học phát hiện kỹ thuật gia cố thành của Thục Phán: chân thành được chẹn một lớp tảng đá. Hòn nhỏ có đường kính 15 cm, hòn lớn 60 cm. Xung quanh Cổ Loa, một mạng lưới thủy văn dày đặc đã được tạo ra, thành một vùng khép kín, thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ thủy binh hùng mạnh. Thuở ấy, sông Thiếp – Ngũ Huyền Khê - Hoàng Giang thông với sông Cầu ở Thổ Hà, Quả Cảm (Hà Bắc) thông với sông Hồng ở Vĩnh Thanh (Đông Anh). Ngay sau khi xây thành, Thục An Dương Vương đã chiêu tập những thợ mộc giỏi, sử dụng gỗ ở địa phương đóng thuyền chiến. Nhân dân cũng được điều tới khai phá rừng đa (Gia Lâm), rừng Mơ (Mai Lâm), rừng dâu da (Du Lâm)... thành ruộng. Những hiệp thợ chuyên rèn vũ khí cũng xuất hiện, chế tạo cônkiếmgiáomác và nỏ liên châu, mỗi phát bắn nhiều mũi tên. Có nhiều bằng chứng khảo cổ về sự tồn tại của hàng chục vạn mũi tên đồng, có thể dùng nỏ liên châu ở đây. Xem thêm truyền thuyết Cổ Loa.[1]Thành Cổ Loa được các nhà khảo cổ học đánh giá là "tòa thành cổ nhất, quy mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ"
    Khi xây thành, người Việt cổ đã biết lợi dụng tối đa và khéo léo các địa hình tự nhiên. Họ tận dụng chiều cao của các đồi, gò, đắp thêm đất cho cao hơn để xây nên hai bức tường thành phía ngoài, vì thế hai bức tường thành này có đường nét uốn lượn theo địa hình chứ không băng theo đường thẳng như bức tường thành trung tâm. Người xưa lại xây thành bên cạnh con sông Hoàng để dùng sông này vừa làm hào bảo vệ thành vừa là nguồn cung cấp nước cho toàn bộ hệ thống hào vừa là đường thủy quan trọng. Chiếc Đầm Cả rộng lớn nằm ở phía Đông cũng được tận dụng biến thành bến cảng làm nơi tụ họp cho đến cả hàng trăm thuyền bè.
    Chất liệu chủ yếu dùng để xây thành là đất, sau đó là đá và gốm vỡ. Đá được dùng để kè cho chân thành được vững chắc. Các đoạn thành ven sông, ven đầm được kè nhiều đá hơn các đoạn khác. Đá kè là loại đá tảng lớn và đá cuội được chở tới từ các miền khác. Xen giữa đám đất đá là những lớp gốm được rải dày mỏng khác nhau, nhiều nhất là ở chân thành và rìa thành để chống sụt lở. Các cuộc khai quật khảo cổ học đã tìm thấy một số lượng gốm khổng lồ gồm ngói ống, ngói bản, đầu ngói, đinh ngói. Ngói có nhiều loại với độ nung khác nhau. Có cái được nung ở nhiệt độ thấp, có cái được nung rất cao gần như sành. Ngói được trang trí nhiều loại hoa văn ở một mặt hay hai mặt.
    Thành Cổ Loa theo tương truyền gồm 9 vòng xoáy trôn ốc, nhưng căn cứ trên dấu tích hiện còn, các nhà khoa học nhận thấy thành có 3 vòng, trong đó vòng thành nội rất có thể được làm về sau, dưới thời Ngô Quyền. Chu vi ngoài 8 km, vòng giữa 6,5 km, vòng trong 1,6 km, diện tích trung tâm lên tới 2 km². Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó. Mặt ngoài lũy, dốc thẳng đứng, mặt trong xoải để đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ. Lũy cao trung bình từ 4 m-5 m, có chỗ cao đến 8 m-12 m. Chân lũy rộng 20 m-30 m, mặt lũy rộng 6 m-12 m. Khối lượng đất đào đắp ước tính 2,2 triệu mét khối.

    Một đoạn tường thành mùa lễ hội
    Thành nội hình chữ nhật, cao trung bình 5 m so với mặt đất, mặt thành rộng từ 6 m-12 m, chân rộng từ 20 m-30 m, chu vi 1.650 m và có một cửa nhìn vào tòa kiến trúc Ngự triều di quy.
    Thành trung là một vòng thành không có khuôn hình cân xứng, dài 6.500 m, nơi cao nhất là 10 m, mặt thành rộng trung bình 10 m, có năm cửa ở các hướng đông, nam, bắc, tây bắc và tây nam, trong đó cửa đông ăn thông với sông Hồng.
    Thành ngoại cũng không có hình dáng rõ ràng, dài hơn 8.000m, cao trung bình 3 m-4 m (có chỗ tới hơn 8 m).
    Mỗi vòng thành đều có hào nước bao quanh bên ngoài, hào rộng trung bình từ 10m đến 30m, có chỗ còn rộng hơn. Các vòng hào đều thông với nhau và thông với sông Hoàng. Sự kết hợp của sông, hào và tường thành không có hình dạng nhất định, khiến thành như một mê cung, là một khu quân sự vừa thuận lợi cho tấn công vừa tốt cho phòng thủ.
    Sông Hoàng được dùng làm hào thiên nhiên cho thành Ngoại ở về phía Tây Nam và Nam. Phần hào còn lại được đào sát chân tường thành từ gò Cột Cờ đến Đầm Cả. Con hào này nối với hào của thành Trung ở Đầm Cả và Xóm Mít, chảy qua cửa Cống Song nối với năm con lạch có hình dáng như bàn tay xòe, và với một nhánh của con lạch này, nước chảy thông vào vòng hào của thành Nội.
    Thuyền bè đi lại dễ dàng trên ba vòng hào để đến trú đậu ở Đầm Cả hoặc ra sông Hoàng và từ đó có thể tỏa đi khắp nơi. Theo truyền thuyết, An Dương Vương thường dùng thuyền đi khắp các hào rồi ra sông Hoàng.Trong cấu trúc chung của thành Cổ Loa còn có một yếu tố khác làm phong phú thêm tổng thể kiến trúc này. Đó là những gò đất dài họặc tròn được đắp rải rác giữa các vòng thành hoặc nằm ngoài thành Ngoại. Không biết được có bao nhiêu ụ, lũy như thế, nhưng một số được dân chúng gọi là Đống Dân, Đống Chuông, Đống Bắn... Các ụ, lũy này được dùng làm công sự, có nhiệm vụ của những pháo đài tiền vệ, phối hợp với thành, hào trong việc bảo vệ và chiến đấu. Đây cũng là một điểm đặc biệt của thành Cổ Loa. Cổ Loa cũng được biết đến là một trong những đô thị đầu tiên trong lịch sử nước ta.
    Về mặt quân sự, thành Cổ Loa thể hiện sự sáng tạo độc đáo của người Việt cổ trong công cuộc giữ nước và chống ngoại xâm. Với các bức thành kiên cố, với hào sâu rộng cùng các ụ, lũy, Cổ Loa là một căn cứ phòng thủ vững chắc để bảo vệ nhà vua, triều đình và kinh đô. Đồng thời là một căn cứ kết hợp hài hòa thủy binh cùng bộ binh. Nhờ ba vòng hào thông nhau dễ dàng, thủy binh có thể phối hợp cùng bộ binh để vận động trên bộ cũng như trên nước khi tác chiến.
    Về mặt xã hội, với sự phân bố từng khu cư trú cho vua, quan, binh lính, thành Cổ Loa là một chứng cứ về sự phân hóa của xã hội thời ấy. Thời kỳ này, vua quan không những đã tách khỏi dân chúng mà còn phải được bảo vệ chặt chẽ, sống gần như cô lập hẳn với cuộc sống bình thường. Xã hội đã có giai cấp rõ ràng và xa hội có sự phân hóa giàu nghèo rõ ràng hơn thời Vua Hùng.
    Về mặt văn hóa, là một tòa thành cổ nhất còn để lại dấu tích, Cổ Loa trở thành một di sản văn hóa, một bằng chứng về sự sáng tạo, về trình độ kỹ thuật cũng như văn hóa của người Việt Cổ. Đá kè chân thành, gốm rải rìa thành, hào nước quanh co, ụ lũy phức tạp, hỏa hồi chắc chắn và nhất là địa hình hiểm trở ngoằn ngoèo, tất cả những điều làm chứng nghệ thuật và văn hóa thời An Dương Vương. Hàng năm, vào ngày 6 tháng giêng âm lịch, cư dân Cổ Loa tổ chức một lễ trang trọng để tưởng nhớ đến những người xưa đã có công xây thành, và nhất là để ghi ơn An Dương Vương.
    Hiện nay Cổ Loa là 1 trong 21 khu du lịch quốc gia Việt Nam và vào ngày 6/1/2013 âm lịch cổ loa đã được công nhận là di tích lịch sử quốc gia đặc biệt
  3. Thành Luy Lâu (cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng)

  4. Thành Luy Lâu-Liên Lẩu (chữ Hán: 羸𨻻), hay bị gọi lầm là "Luy Lâu" (xem mục Tên gọi bên dưới), là quận trị của quận Giao Chỉ và châu trị của Giao châu. Luy Lâu thời Bắc thuộc không chỉ là trung tâm chính trị, mà còn là trung tâm kinh tế - thương mại, trung tâm văn hóa - tôn giáo lớn và cổ xưa nhất của Việt Nam.Địa danh này trong vốn được viết bằng chữ Hán là "羸𨻻" hoặc "𨏩𨻻" [1][2][3][4]. Chữ "羸" trong "羸𨻻" theo phiên thiết trong các vận thư của Trung Quốc đọc là "liên", không đọc là "luy" [3], còn chữ "𨻻" đọc là "lẩu", không đọc là "lâu" [5], "羸𨻻" đọc là "Liên Lẩu". Chữ "羸" ngoài âm "liên" hiếm gặp, chỉ dùng làm tên địa danh còn có một âm đọc khác thường gặp hơn là "luy" [3][6]. Chữ "𨻻" ngoài âm "lẩu" còn có hai âm đọc khác là "lâu" và "lũ" [7]. Do chữ "𨻻" hiếm gặp nên có khi bị thay bằng chữ 婁 hay gặp hơn. Chữ "婁" có năm âm đọc là "lu", "lũ", "luy", "lâu", "lẩu" [8]. Do sự phức tạp về âm đọc của chữ Hán mà "羸𨻻" trong các tài liệu tiếng Việt hay bị đọc sai âm Hán Việt thành "Luy Lâu". Trong "Đại Việt sử ký toàn thư" (大越史記全書) địa danh Liên Lẩu được gọi là "Doanh Lâu" (籯漊, 籯樓) [9]. Bản dịch tiếng Việt "Đại Việt sử ký toàn thư" của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam đã sửa thành là "Liên Lâu" và chú thích "cũng thường đọc là Luy Lâu", đọc đúng âm "liên" nhưng sai âm "lâu".
    Âm Hán ngữ trung cổ của Liên Lẩu 羸𨻻 dựa theo phiên thiết và thanh mẫuvận mẫu do Cao Bổn Hán (高本漢), Vương Lực (王力), Lý Vinh (李榮), Thiệu Vinh Phân (邵榮芬), Trinh Trương Thượng Phương (鄭張尚芳), Phan Ngộ Vân (潘悟雲) và Bồ Lập Bổn (蒲立本) [10][11] khôi phục:Trong thời kỳ bắc thuộc nhà Đông Ngô. Sĩ Nhiếp, một quan chức người Hán được vua Ngô cử làm thứ sử Giao Châu, ông đã cho xây dựng lại thành Luy Lâu, đặt làm trung tâm của bộ máy cai trị.Đô thị Luy Lâu nằm giữa khu vực giao nhau giữa Sông Dâu và Sông Đuống, giữa trung tâm đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, trong đó Sông Dâu giữ vai trò trục không gian kiến trúc chính. Các công trình của đô thị chủ yếu dựng đặt, xây cất bên bờ Sông Dâu (thành lũy bên một bờ sông). Trung tâm đô thị là tòa Thành Luy Lâu kiên cố và bề thế - trụ sở chính và căn cứ quân sự của bộ máy cai trị. Trong thành là công đường, dinh thất, nhà cửa, đồn trại, kho bãi… Mặt lũy thành là tháp canh, đồn trại, bao lấy lũy thành là hào sâu, lũy tre dày đặc nhằm bảo vệ bộ máy cai trị của phong kiến ngoại tộc.
    Ngoài thành, ở hai phía Nam - Bắc là nhà ở, dinh thự, lầu gác của quan lại, quý tộc là chủ yếu, mà nay còn lại dấu tích khảo cổ và địa danh Văn Quan, Phương Quan, Mã Quan, Cánh Sở…
    Di tích để lại ngày nay chỉ còn một đoạn tường thành nhỏ còn sót lại, tại xã Thanh KhươngThuận ThànhBắc Ninh, trước mặt thành là con sông Dâu (một con sông cổ nay đã bị bồi lắng, từng nối sông Thái Bình với sông Hồng, nằm song song với sông Đuống ngày nay) làm thành hào tự nhiên. Theo nghiên cứu khảo cổ học, thành Luy Lâu hình chữ nhật, có diện tích khoảng 300m x 600m chếch theo hướng tây namTheo các nguồn sử liệu, các nước phương Tây và phương Nam muốn buôn bán, giao thiệp với Trung Quốc đều phải theo con đường Giao Chỉ. Từ Tr.C.N và nhất là từ thế kỷ II-III S.C.N trở đi, ngày càng có nhiều thương nhân nước ngoài đến buôn bán ở Giao Châu và thuyền buôn của họ thường xuyên có mặt ở Luy Lâu. Những chứng tích vật chất và các nguồn tài liệu ở Luy Lâu đã khẳng định Luy Lâu thực sự là trung tâm thương mại lớn - một đô thị cảng mang tính quốc tế của nước ta thời Bắc thuộc.Tại đây, tư tưởng Nho giáo và văn hoá Hán Đường đã được truyền bá liên tục vào nước ta. Đây là nơi đầu tiên Sỹ Nhiếp mở trường lớp dạy chữ và văn hoá Hán. Ngoài ra Luy Lâu còn là trung tâm Phật giáo lớn và cổ xưa nhất của người Việt. Hệ thống di tích, chùa tháp quần tụ đậm đặc ở đây với trung tâm là chùa Dâu cùng nhiều nguồn di vật, tài liệu như tượng pháp, bia ký, bản khắc Cổ Châu Pháp Vân vật bán hanh và lễ hội chùa Dâu - lễ hội Phật giáo lớn nhất trong đồng bằng Bắc Bộ với các nghi lễ Tân Phật, rước Tứ Pháp, rước nước đã cho thấy Luy Lâu là trung tâm Phật giáo lớn và sớm nhất Việt Nam. Luy Lâu là không gian điển hình đan xen, hỗn dung tiếp xúc, biến đổi hội tụ và kết tinh văn hoá Việt Nam cỏ với văn hoá Phật - Ấn, Nam Á và Trung Á, văn hoá Nho Lão (Trung Hoa - Đông Á) để rồi sinh thành bản sắc văn hoá Kinh Việt.Mặc dù thành Luy Lâu có từ thế kỷ thứ II sau Công nguyên, đã qua nhiều thăng trầm, chịu sự tàn phá của thiên nhiên, con người, nhưng vẫn còn lưu giữ được nhiều dấu tích cổ. Ông Nguyễn Duy Nhất, Giám đốc Ban quản lý di tích tỉnh Bắc Ninh cho biết: Thành Luy Lâu hiện còn giữ nguyên được một nửa thành cũ với diện tích 132.258m2 ở phía Tây Nam. Phía Đông đã trở thành đất thổ cư của làng Lũng Khê. Bên trong thành có chùa Phi Tướng, chùa Bình. Chùa thờ tượng Sỹ Nhiếp có từ thời Lê Nguyễn. Bờ thành bằng đất còn cao khoảng 1-2m, mặt thành rộng 1,5m. Trong khu vực thành còn đền, mộ, chùa, tứ trấn (4 gò đất nhô cao lên so với mặt thành). Đặc biệt, di tích cổ vẫn còn tồn tại từ thế kỷ thứ 2 chính là chiếc cầu đá, lối đi vào đền thờ Sỹ Nhiếp. Qua một số đợt khai quật, các nhà khảo cổ đã phát hiện nhiều cổ vật quý, dày đặc dưới lớp đất canh tác như: đồ gốm, gạch ngói thời Hán, hàng trăm lò nấu đồng, móng gạch có niên đại sớm và dấu tích của một kiến trúc cổ đã bị cháy… Năm 2006, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh đã có kế hoạch trùng tu, tôn tạo và tới năm 2011 sẽ có hướng bảo tồn cụ thể"...

    Khu vực thành Luy Lâu (cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng)

    Thành Luy Lâu (cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng)

    Đền Sỹ NhiếpĐền Sỹ Nhiếp (thành Luy Lâu) Bắc Ninh

  5. Đền Sỹ Nhiếp (thành Luy Lâu) Bắc Ninh

  6. Đền Sỹ Nhiếp (Bắc Ninh)

  7. Thành Vĩnh Long-Thành Vĩnh Long hay thành Long Hồ ở Vĩnh Long, được xây dựng dưới triều Nguyễn, là thành trì và là trị sở chi phối về quân sự-kinh tế-văn hóa cả khu vực miền Tây Nam Kỳ thời bấy giờ. Tòa thành từng bị quân Pháp đánh phá hai lần: năm 1862 và 1867. Đến lần thứ hai, thì toàn thể Nam Kỳ cũng dần mất hết về tay Pháp. Đây là nơi lưu dấu của vương triều chúa Nguyễn-nhà Nguyễn và cũng là nơi chứng kiến sự bất lực và cái chết của lão thần Phan Thanh Giản, vì đã không thể hoàn thành được trọng trách của mình.Thành Vĩnh Long xưa tọa lạc trên một gò đất cao (nay gần như đã phẳng) ở tại giao lộ 19 tháng 8 và đường Hoàng Thái Hiếu, thuộc phường 1, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
  8. 1
  9. 1