Thứ Ba, 25 tháng 3, 2014

kiến trúc trung tâm hội nghị thành phố đại liên, trung quốc

Trung tâm hội nghị thành phố được xây dựng bên cạnh bến cảng ở thành phố Đại Liên nằm ở phía cuối  dọc theo trục chính của thành phố.

Thiết kế tòa nhà là bao gồm một phòng hòa nhạc với 1.600 chỗ ngồi; Phòng hội nghị chứa đến 2.500 đại biểu.  Bên cạnh đó còn được bố trí thêm 6 phòng hội nghị bổ sung rải rác xung quanh tòa nhà với sức chứa từ 300 đến 600 người.
thiet ke thi cong noi that van phong
thi cong noi that van phong
thiet ke noi that van phong
noi that van phong
thiet ke noi that
Nhiệm vụ của các kiến trúc sư khi thiết kế công trình là phải tạo được điểm nhấn cho những người dân trong thành phố và cộng đồng quốc tế .
thi cong noi that
thiet ke noi that gia re
thiet ke noi that o ha noi
thi cong noi that gia re
thi cong noi that o ha noi
thiết kế thi công nội thất văn phòng
thiết kế thi công nội thất
thi công nội thất văn phòng
thiết kế nội thất văn phòng
Không gian các phòng hội nghị và các khu vực lưu thông đều sử dụng tối đa ánh sáng ban ngày trực tiếp từ trên cao
nội thất văn phòng
nội thất văn phòng giá rẻ
nội thất văn phòng ở hà nội
nội thất văn phòng fami
nội thất văn phòng hòa phát
nội thất văn phòng ở hà nội
thiết kế nội thất giá rẻ
thiết kế nội thất chuyên nghiệp
thiết kế nội thất ở hà nội
thi công nội thất giá rẻ
thi công nội thất ở hà nội
thi công nội thất chuyên nghiệp
thiết kế trung tâm hội nghị Đại Liên
thiet ke phong chieu phim dai lien
ban ve thiet ke noi that dai lien


ban ve thi cong noi that dai lien




TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN Ở HỘI AN

Tín ngưỡng vạn vật hữu linh: Trong buổi bình minh của loài người, khi loài người bắt đầu nhận thức và lý giải các hiện tượng xảy ra xung quanh, họ thường gắn chúng với tư duy sơ khai của mình. Từ đó, hình thành tín ngưỡng vận vật hữu linh. Tín ngưỡng này để lại dấu ấn sâu đậm ở các thời kỳ sau. Tại địa phương, dấu vết tín ngưỡng vạn vật hữu linh thể hiện ở quan niệm của cư dân về linh hồn. Cư dân địa phương cho rằng con người có 3 hồn 7 vía (nam) hoặc 3 hồn 9 vía (nữ).
Giữa hồn và vía không có sự phân biệt cụ thể. Khi còn sống, hồn của người thường ở đỉnh đầu, gáy, 2 vai. Vì thế cữ đánh vào các điểm này, sợ làm hồn bỏ đi (“hoảng hồn”). Khi chết, linh hồn không mất đi, mà chỉ thoát khỏi thể xác để sang thế giới khác. Những kẻ bất đắc kỳ tử, chết đường, chết sông, linh hồn vất vưởng, do đó phải lập miếu âm linh để thờ hoặc lập đàn cúng tế. Các con vật nuôi trong nhà cũng có hồn, sau khi chết thường có ma. Hiện tượng ma heo, ma trâu, ma gà, ma chó vẫn được dân gian truyền miệng. Một số loài cây sống lâu năm cũng có ma, có hồn. Các vật vô tri như: Sắt, đá, gỗ được xem là không có hồn, nhưng nếu tồn tại lâu năm và gặp các biến cố đặc biệt nào đó có thể trở thành tinh quấy phá con người. Sự phân biệt này thể hiện sự phát triển về nhận thức và xã hội nói chung. Tín ngưỡng vạn vật hữu linh là cơ sở tinh thần để cư dân địa phương dễ dàng tiếp thu quan niệm về quỷ thần, số mạng, về duyên nghiệp của các tôn giáo Phật, Đạo gia nhập sau này.
Tín ngưỡng đa thần: Tín ngưỡng đa thần hình thành từ tâm lý khiếp sợ, từ sự bất lực của con người trước các hiện tượng tự nhiên và xã hội,  nhất là các hiện tượng chi phối trực tiếp đến đời sống con người. Biểu hiện của tín ngưỡng này là sự linh thiêng hóa tự nhiên thành các thần - Lực lượng siêu nhiên khống chế đời sống con người. Dấu vết tín ngưỡng đa thần được bảo lưu trong đời sống tinh thần của cư dân bản địa dưới nhiều hình thức khác nhau. Trong nhà có hình thức thờ ngũ tự, thần giếng, thần bếp, thần đất, ông bình vôi... Ngoài làng xã, cư dân địa phương thờ nhiều vị thần. Chúng tôi đếm được 45 tên thần trong một bản văn tế cá Ông tại làng Câu - xã Cẩm An, trong đó có các thần gắn với tín ngưỡng dân gian như thần sấm, thần gió, thần sóng, thần cửa biển, thần trống chầu, thần thủy đạo... sự giao lưu, chuyển hóa qua các thời kỳ thể hiện ở sự phân đẳng cấp giữa các thần, việc phong danh hiệu, mỹ tự, việc thay đổi tên gọi dân gian thành Hán tự. Thần Đất được chuyển thành Khai hoàng hậu thổ vạn phước nguyên quân; rái cá là Đông Nam soát hải lang, lại nhị đại tướng quân; Thần Bếp là Đông trù Tư mạng Táo phủ thần quan; cá Ông là Nam Hải Cự tộc Ngọc lân tônthần, nữ thần Ponagar của Chàm thành Thiên Y-a-na diễn phi Chúa Ngọc... Tách bóc lớp vỏ giao lưu chuyển hóa này, chúng ta bắt gặp ở đây hình thức tín ngưỡng đa thần thời kỳ sơ khai của cư dân bản địa.
Tại một số di tích ở Hội An có thờ Phục Ba tướng quân. Đây thực chất là tục lệ thờ Thần chế ngự sóng gió vốn có nguồn gốc lâu đời trong dân gian, nhất là cư dân ven biển nước ta cũng như một số nước ở Phương Đông. Vì vậy, ở miếu Tổ nghề yến ở Bãi Hương (Cù Lao Chàm) thờ các bài vị Phục ba đại tướng quân Tứ Dương hầu quốc công; Phục ba đại tướng quân Bích Sơn hầu quận công. Ở Lăng Tiền hiền Bãi Làng (Cù Lao Chàm) cũng có ba bài vị thờ ba vị thần phục ba, trong đó có một bài vị đề: Sắc phong phục ba Mã tướng quân thần vị. Ở hội quán Triều Châu thờ thần Phục Ba làm Bổn đầu công (Ông Bổn) cũng với ý nghĩa chế ngự sóng gió này.

   
       Thờ thần Phục Ba làm Bổn đầu công ở Chùa Ông Bổn




Thờ các bài vị Phục ba đại tướng quân Tứ Dương hầu quốc công ở miếu tổ nghề yến Cù Lao Chàm
 
   Quan niệm về ba thế giới: Cũng như các vùng trong xứ Quảng, cư dân Hội An lưu hành phổ biến quan niệm về ba thế giới, ba cõi: Trời, Người, và Cõi âm. Trời là thế giới linh thiêng ở trên cao, là nơi ngự trị của Ngọc Hoàng Thượng đế (dân gian quen gọi là Ông Trời) và các vị thần, phật, chỉ những người đức độ, hiền lành sau khi chết mới được dự vào.Thế giới người sống là cõi dương, dương thế. Sau khi chết, con người vào thế giới khác là cõi âm hay âm phủ, ở sâu dưới lòng đất. Âm phủ là thế giới tối tăm, lạnh lẽo, nơi đó diễn ra sự phán xử, sự trừng phạt những hành vi tội lỗi của con người lúc còn trên  dương thế. Quan niệm này chịu ảnh hưởng nặng nề của giáo thuyết Phật, Đạo. ảnh hưởng này còn thể hiện ở sự lưu truyền rộng rãi của thuyết định mệnh, thuyết nhân quả, thuyết âm dương - ngũ hành trong đời sống tinh thần của cư dân. Ở vùng trung tâm phố thị ảnh hưởng này có phần sâu đậm hơn ở các vùng nông thôn. Điều này chứng tỏ rằng quan hệ giao lưu ở trung tâm phố thị diễn ra mạnh mẽ hơn. Một hiện tượng cũng cần chú ý là, khi gia nhập vào địa phương, ý nghĩa triết học của các thuyết này đã được dân gian hóa. Dân gian chỉ giữ lại những yếu tố, những quan niệm phù hợp với đặc trưng tâm lý và văn hóa địa phương.
   Một số dấu vết tín ngưỡng lạ: Trong quá trình khảo sát, điền dã, chúng tôi gặp một số hình thức thờ cúng rất lạ. Tại thôn 7, xã Cẩm Hà, còn một ngôi miếu nhỏ, được lập nên để thờ một phiến đá. Tư liệu dân gian về hiện tượng thờ cúng này rất hiếm hoi, họ chỉ biết rằng đó là miếu bà Vàng. Bà Vàng hoặc Dàng là sự việt hóa từ Y-ang của cư dân Chàm. “Y-ang” tiếng Chàm có nghĩa là linh thiêng, thần thánh. Căn cứ tư liệu thực địa và tư liệu dân gian chúng ta có thể xác định rằng đây là dấu vết của tục thờ đá - hình thức tín ngưỡng gắn với thời kỳ sơ khai. Thờ đá là hiện tượng tín ngưỡng xuất hiện phổ biến ở khu vực Đông Nam á. Một số dân tộc vùng cao hiện nay cũng còn giữ tục lệ này. Cư dân Việt cổ trước đây cũng có tục thờ đá, dấu vết còn lưu lại ở việc sùng tín các viên đá cầu tự ở chùa Hương, chuyện Hòn Vọng Phu, việc thờ đá ở “Thạch quang âm” tại Chùa Dâu, Hà Bắc...
  Do sự gần gũi về tín ngưỡng nên hình thức thờ tự này của cư dân Chàm được cư dân Việt tiếp thu và bảo lưu cho đến nay.
    Ở Lai Nghi (thuộc Phường Thanh Hà) trước đây có miếu Ông Đá. Tư liệu dân gian cho biết rằng, trong miếu thờ một phiến đá hình trụ, cao khoảng 0,5m. Khi đau ốm cư dân quanh vùng thường đến cúng vái, lấy một ít mảnh của phiến đá thờ mang về sắc uống trị bệnh. Di tích này đã bị san bằng. Hiện nay còn lại tục danh cống Ông Đá dùng để chỉ một chiếc cống thoát nước bên cạnh miếu. Đây cũng là dấu vết của tục thờ đá như đã nói ở trên.
+ Tục thờ đá bùa: Cùng với tục thờ đá, tại Hội An hiện còn lưu giữ nhiều phiến đá chạm khắc các hình tượng bùa chú để trấn yểm phong thủy, cầu mong cát tường. Dân gian địa phương gọi đây là các ông Bùa với thái độ e dè, kính sợ. Các ông Bùa này thường được đặt ở những nơi có hiện tượng thủy phá (nước xói lỡ), nơi có các hiện tượng bất ổn về đất đai, về sinh hoạt, nơi có vị trí xấu như đường thọc thẳng vào nhà, vào đình miếu, nơi ở có góc cạnh,... Ngoài các hình bùa chú, hình hổ phù, hình sao bắc đẩu, các câu chú như “úm ma ni bát mê hồng” “Thần thạch trấn thủy”... những phiến đá này phổ biến khắc ba chữ Thạch cảm đương (đá linh ứng) bằng chữ Hán, kiểu chữ triện hoặc chữ  chân.
   Ở khu vực nông nghiệp, cư dân địa phương còn lưu giữ một số dấu vết tín ngưỡng có màu sắc sơ khai. Tục xô cổ khi tế đình mang bóng dáng tín ngưỡng phồn thực. Tư duy lưỡng hợp kiểu đực - cái, sấp - ngửa, tối - sáng, mưa - nắng, âm - dương lưu hành phổ biến trong đời sống tinh thần của cư dân địa phương, chi phối mạnh mẽ các hoạt động văn hóa của họ. Do vậy, bên cạnh lăng Ông thường có lăng Bà, bên cạnh trống chầu tượng trưng tính dương có bu lu tượng trưng tính âm, bên miếng ngói sấp có miếng ngói ngửa, bên ông thiện có ông ác... tư duy lưỡng hợp này là cơ sở tinh thần để cư dân địa phương dễ dàng tiếp thu triết thuyết âm dương từ Trung Hoa nhập vào sau này.
+ Tục cúng thần đất, cúng cơm mới hiện nay vẫn còn bảo lưu tại Hội An liên quan ít nhiều đến tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp thời kỳ sơ khai. Việc thờ thần đất - vị thần cai quản ở từng khu vực, từng mảnh đất là hiện tượng phổ biến ở Đông Nam Á. Tục cúng cơm mới gắn liền với tín ngưỡng cây lúa, được lưu truyền ở hầu hết các tộc người trên nước ta. Sau khi cúng, cư dân địa phương có lệ cho chó ăn trước. Hiện tượng này được lý giải bằng sự tích cúng cơm mới. Sự tích cúng cơm mới lưu hành tại địa phương có những điểm gần gũi với sự tích lúa về khi của dân tộc Triêng, Catu, Cadong...
  Ở làng An Bàng, xã Cẩm An hiện nay vẫn còn lễ cúng phác nác. Do trải qua quá trình phát triển lâu dài, cộng với nhiều lần chuyển đổi nên hiện nay cư dân gọi chệch là “phác lác” và giải thích bằng việc dỡ lác làm ruộng của ông tổ làng An Bàng. Khi cúng có nghi thức đặt trên chiếc chiếu trước bàn thờ bên bờ biển 2 chiếc đòn gánh, tréo nhau hình dấu nhân (x). Khi lạy xong, chủ tế cầm 2 đòn gánh lên, dằn mạnh xuống chiếu. Các lại ghe đứng xung quanh, khi đòn gánh văng xuống thì nhất loạt dạ to 1 tiếng giống như tiếng reo hò. Lễ “phác lác” là cách gọi chệch của lễ phác nác, một tục lệ gắn với tín ngưỡng nông nghiệp của cư dân Việt cổ. Phác nác có nghĩa là mở giòng nước, mở ra một thời vụ mưa thuận gió hòa. Nghi thức dằn 2 cây đòn gánh xuống chiếu để chúng văng ra, tách ra, mở ra có nét gần gũi với nghi thức chèo ghe cắt sợ dây chăng ngang qua sông trong các lễ phác nác xưa. Qua tục lệ này ta thấy được cội nguồn nông nghiệp của cư dân ven biển tại địa phương và tính bảo lưu mạnh mẽ một số tục lệ cổ xưa của cư dân bản địa. Do sau này, ngư nghiệp tách thành một số nghề riêng nên cư dân ven biển đã gắn vào tục lệ này với ý nghĩa mới, nội dung mới thích ứng với nghề nghiệp hiện tại của mình...

Đền cổ ngàn năm dấu Bạch Vân

Xuôi dòng Ngàn Phố, đến Thịnh Xá (Sơn Thịnh)- Quê ông nội vợ tôi có một ngôi đền cổ làm bằng gỗ với những dấu tích nghệ thuật đặc sắc, ấy là đền Đền Bạch Vân.
Đền cổ Bạch Vân với kiến trúc đậm dấu ấn văn hóa cuối Lê đầu Nguyễn ở thôn Thịnh Xá, xã Sơn Thịnh - Hương Sơn
Đền do ông Đinh Nho Công lập nên sau ngày ông đậu Tiến sĩ khoa Canh Tuất (1670) để thờ ông Trần Toản quê ở tỉnh Thanh Hóa là bạn học của ông, về sau trở thành ngôi đền thiêng của vùng Thịnh Xá phù hộ cho con cháu bao đời học hành vinh hiển…
Đinh Nho Công ( 1637- ?) người xã Yên Ấp nay thuộc xã Sơn Hòa (Hương Sơn) là người thông minh, có chí đèn sách, 34 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Tuất niên hiệu Cảnh Trị thứ 8 (1670) đời vua Lê Huyền Tông. Khoảng năm Nhâm Tuất niên hiệu Chính Hòa (1692) ông giữ chức Tham Chính xứ Sơn Nam, sau được thăng Thiêm đô Ngự sử rồi vì phạm lỗi bị truất xuống Tự Khanh. Sự tích đền Bạch Vân truyền lại, năm ông khoảng 30 tuổi, một hôm nằm mơ thấy mình đang đi cày ở vùng Cồn Lây bỗng gặp một bà lão đi đến, dáng người phúc hậu, thanh nhã, gặp ông bà lão rất đỗi vui mừng nói : “Xin chào ngài Đô Ngự sử” và bảo: “Theo tôi thì Ngài nên về lo việc bút nghiên sẽ tốt hơn, về sau sự nghiệp sẽ hiển hách hơn là đi cày, ở nhà đi cày sẽ phí mất một nhân tài của đất nước”. Nói xong bà lão biến mất. Đinh Nho Công đem kể lại giấc mơ ấy với mẹ mình, bà rất mừng và bảo con nên nghe theo lời của bà lão. Sau đó, Đinh Công nuôi chí đèn sách và ra Thanh Hóa tìm thầy học tập. Ra Thanh Hóa, Đinh Nho Công kết bạn được với một nho sinh học giỏi thông minh lỗi lạc, đó là Trần Toản. Sau 3 năm đèn sách miệt mài cả hai ông đều thi đỗ cử nhân. Trước lúc chia tay, hai người hứa hẹn với nhau về nhà tiếp tục chăm lo học hành để 3 năm sau cùng ra kinh đô Thăng Long dự khoa thi Hội. 3 năm đèn sách trôi qua, sắp đến ngày hẹn Đinh Nho Công nằm mơ thấy mình đang trên đường đi thi, vừa đến Bích Kiều gần chợ Thượng (Đức Thọ) thì gặp Trần Toản cưỡi ngựa trắng đi lên huyện Hương Sơn quê mình. Gặp nhau hai người rất đỗi vui mừng, Trần Toản nói: “Khoa thi này chỉ có mình chú đi thi còn ta đã về trời được hơn một tháng rồi. Bài vở tôi đã soạn cả đang để ở nhà, chú ra gặp nhà tôi mà lấy. Phen này ta mừng cho chú đậu Tiến sĩ, nhưng đậu rồi đừng quên ơn ta. Chú làm cho ta một cái đền ở làng chú để đêm hôm qua lại cho vui”. Tỉnh dậy, Đinh Nho Công cảm thấy rất bàng hoàng về giấc mơ ấy. Sau đó ông ra Thanh Hóa thì quả nhiên đúng như vậy.
  
Xưa mây trắng dồn tụ dày dặc ở vùng Cồn Mai làng Thịnh Xá
Ảnh vanthekt, chụp 30/4/2012.

Khoa thi năm Canh Tuất (1670) Đinh Nho Công đậu Tiến sĩ, chính trong đêm Vinh quy bái tổ, Đinh Nho Công lại nằm mộng thấy Trần Toản đến làm lễ mừng đại khoa và dặn rằng: “ Ngày mai xuống làng Thịnh Xá thấy đám mây tụ ở đâu thì dựng đền cho ta ở đó để nhớ ơn tình bạn tri kỷ không bao giờ phai”. Sau đó Tiến sĩ Đinh Nho Công thấy một đám mây trắng dồn tụ dày dặc ở vùng Cồn Mai làng Thịnh Xá do vậy ông đã cho xây dựng đền tại đây và đặt tên là Bạch Vân (đền Mây Trắng).
                        
Nội cung, khi tôi đến, đền đang được tu bổ.
Ảnh vanthekt, chụp 30/4/2012.

           
Ngôi đền ban đầu được làm bằng tranh nứa nhưng về sau được tôn tạo lại khang trang lộng lẫy vào thời kỳ cuối thời Lê đầu đời Nguyễn với ba tòa Thượng điện, Trung điện, Hạ điện và nhà nghĩa thương ở trước đền. Từ đó về sau ngôi đền rất linh thiêng ai đến cầu khoa danh đều được như nguyện ước. Chính con trai của Đinh Nho Công là Đinh Nho Hoàn cũng gặp giấc mơ kỳ lạ sau khi đến làm lễ cầu khoa danh tại đền. Về sau Đinh Nho Hoàn đậu Hoàng giáp khoa thi năm thi Canh Thìn (1700), làm quan Ngự sử trong triều vua Lê Hy Tông. Hoàng giáp Đinh Nho Hoàn còn lưu lại câu đối để nhắc lại sự tích ấy: “Thần bút hà niên hoàng bảng trợ/ Linh từ chung cổ Bạch Vân lưu” (Bút thần năm trước nên bảng vàng/ Đền cổ ngàn năm dấu Bạch Vân).
           
Phong cảnh làng Thịnh Xá-
Trước cổng nhà ông nội, rẽ trái là tới đền Bạch Vân.

Ảnh vanthekt, chụp 30/4/2012.
Sau khi Tiến sĩ Đinh Nho Công mất, để ghi nhớ công lao của ông, nhân dân làng Thịnh Xá đã thờ trong đền Bạch Vân với nghi thức như một vị Thành hoàng của làng. Bài vị thờ trong đền ghi rõ: “ Đương cảnh Thành hoàng anh linh hiển ứng, Cồn Mai phúc thần Đại vương, lịch triều gia phong Thượng đẳng tôn thần”. Về sau, nhân dân làng Thịnh Xá tiếp tục xây dựng gác chuông và chùa làng vào phía sau đền Bạch Vân, gọi là chùa Thịnh Xá để có nơi cho nhân dân tu hành.
  
Dấu xưa hồn thu thảo. Ảnh vanthekt, chụp 30/4/2012.

Xuôi dòng Ngàn Phố. Ảnh vanthekt, chụp 30/4/2012.
Di tích đền Bạch Vân và chùa Thịnh Xá thuộc loại hình kiến trúc nghệ thuật đã được xếp hạng di tích quốc gia. Trải qua bao thăng trầm của thời gian, đền Bạch Vân đã bị xuống cấp một phần nhưng vẫn còn nguyên vẹn là một quần thể kiến trúc cuối Lê đầu Nguyễn ở tỉnh Hà Tĩnh. Có thể thấy rất rõ, đền Bạch Vân là một trong những di tích được chạm khắc một cách rất công phu và đầy tính nghệ thuật trên chất liệu gỗ truyền thống là gỗ mít, với cách bài trí đăng đối hài hòa, các chủ đề trang trí phản ánh đời sống văn hóa dân gian truyền thống như rồng, phượng, cá chép hóa rồng, voi, ngựa, công, con quốc, rùa, hươu, những cây cảnh rất quen thuộc như trúc, mai, sen v.v.. Trên các bộ phận kiến trúc bằng gỗ, người thợ xưa đã triệt để chạm khắc các cảnh vật vô cùng sinh động dí dỏm, đã nâng cao được giá trị kiến trúc và nghệ thuật trang trí lên đến đỉnh cao, góp thêm cho kho tàng kiến trúc trúc đình đền Việt Nam những giá trị không nhỏ.
              

                             Cổng chùa Thịnh Xá
            
Cũng như đền Bạch Vân, chùa Thịnh Xá cũng được chạm trổ công phu, với các đề tài dân gian như lá sen, hoa sen, rùa. Đặc biệt là các đầu dư của 2 gian giữa của chùa, được các nghệ nhân xưa tạo tác rất công phu và có rất có ý đồ, nhằm tạo cho chùa nét đặc sắc, tươi tắn thông qua lối chạm lộng với đề tài là đầu rồng biểu hiện của sự thanh cao của đấng minh quân. Trên các thượng lương, kẻ ngồi, kẻ bẩy, xà dọc cũng được chạm trổ cầu kỳ với các đề tài đầu dơi, chim phượng, ngựa đầu rồng. (nguồn Báo Hà Tĩnh)