Thứ Hai, 2 tháng 2, 2015

HUẾ

Kinh Thành Huế
Là toà thành ở cố đô Huế, nơi đóng đô của vương triều nhà Nguyễn trong suốt 140 năm từ 1805 đến 1945. Hiện nay Kinh thành Huế là một trong số các di tích thuộc cụm Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới.
Từ thời các chúa NguyễnHuế đã từng được chọn làm thủ phủ xứ Đàng Trong: năm 1635-1687 Nguyễn Phúc LanNguyễn Phúc Tần dựng phủ ở Kim Long ; đến thời Nguyễn Phúc TháiNguyễn Phúc Khoát đã dời phủ về Phú Xuân trong những năm 1687-1712; 1739-1774. Đến thời Tây Sơn, Huế vẫn được vua Quang Trungchọn làm thành kinh đô của cả nước Việt Nam thống nhất. Năm 102, khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng đế, mở đầu cho vương triều Nguyễn kéo dài suốt 143 năm, một lần nữa lại chọn Huế làm nơi đóng đô.
Ngay sau khi lên ngôi, Gia Long đã tiến hành khảo sát chọn vị trí xây thành mới, cuối cùng ông đã chọn vùng đất rộng bên bờ bắc sông Hương gồm phần đất của các làng Phú XuânVạn XuânDiễn PháiAn VânAn HoàAn MỹAn BảoThế Lại cùng một phần của hai con sông Bạch Yến và Kim Long làm nơi xây thành. Về mặt phong thuỷ, tiền án của kinh thành là núi Ngự Bình cao hơn 100 mét, đỉnh bằng phẳng, dáng đẹp, cân phân nằm giữa vùng đồng bằng như một bức bình phong thiên nhiên che chắn trước kinh thành. Hai bên là Cồn Hến và Cồn Dã Viên làm tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ (rồng xanh bên trái, hổ trắng bên phải) làm thế rồng chầu hổ phục tỏ ý tôn trọng vương quyền. Minh đường thủy tụ là khúc sông Hương rộng, nằm dài giữa hai cồn cong như một cánh cung mang lại sinh khí cho đô thành. Kinh thành Huế được đích thân Gia Long chọn vị trí và cắm mốc, tiến hành khảo sát từ năm 1803, khởi công xây dựng từ 1805 và hoàn chình vào năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng. Trong lịch sử Việt Nam thời cận đại, công trình xây dựng Kinh Thành Huế có lẽ là công trình đồ sộ, quy mô nhất với hàng vạn lượt người tham gia thi công, hàng triệu mét khối đất đá, với một khối lượng công việc khổng lồ đào hào, lấp sông, di dân, dời mộ, đắp thành... kéo dài trong suốt 30 năm dưới hai triều vụa

Click the image to open in full size.

Một đoạn thành Huế và Kỳ Đài

Kinh Thành Huế được quy hoạch bên bờ Bắc sông Hương, xoay mặt về hướng Nam, với diện tích mặt bằng 520 ha. Kinh Thành và mọi công trình kiến trúc của Hoàng Thành, Tử Cấm Thành đều xoay về hướng Nam, hướng mà trong Kinh Dịch đã ghi “Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ“ (ý nói vua quay mặt về hướng Nam để cai trị thiên hạ).
Vòng thành có chu vi gần 10km, cao 6,6m, dày 21m được xây khúc khuỷu với những pháo đài được bố trí cách đều nhau, kèm theo các pháo nhãn, đại bác, kho đạn; thành ban đầu chỉ đắp bằng đất, mãi đến cuối đời Gia Long mới bắt đầu xây gạch. Bên ngoài vòng thành có một hệ thống hào bao bọc ngay bên ngoài. Riêng hệ thống sông đào (Hộ Thành Hà) vừa mang chức năng bảo vệ vừa có chức năng giao thông đường thủy có chiều dài hơn 7 km (đoạn ở phía Tây là sông Kẻ Vạn, đoạn phía Bắc là sông An Hòa, đoạn phía Đông là sông Đông Ba, riêng đoạn phía Nam dựa vào sông Hương).

Thành có 10 cửa chính gồm:

  • Cửa Chính Bắc (còn gọi cửa Hậu, nằm ở mặt sau Kinh Thành).
  • Cửa Tây-Bắc (còn gọi cửa An Hòa, tên làng ở đây).
  • Cửa Chính Tây.
  • Cửa Tây-Nam (cửa Hữu, bên phải Kinh Thành).
  • Cửa Chính Nam (còn gọi cửa Nhà Đồ, do gần đó có Võ Khố - nhà để đồ binh khí, lập thời Gia Long).
  • Cửa Quảng Đức .
  • Cửa Thể Nhơn (tức cửa Ngăn, do trước đây có tường xây cao ngăn thành con đường dành cho vua ra bến sông).
  • Cửa Đông-Nam (còn gọi cửa Thượng Tứ do có Viện Thượng Kỵ và tàu ngựa nằm phía trong cửa).
  • Cửa Chính Đông (tức cửa Đông Ba, tên khu vực dân cư ở đây).
  • Cửa Đông-Bắc (còn có tên cửa Kẻ Trài)
Ngoài ra Kinh Thành còn có 1 cửa thông với Trấn Bình Đài (thành phụ ở góc Đông Bắc của Kinh Thành, còn gọi là thành Mang Cá), có tên gọi là Trấn Bình Môn. Hai cửa bằng đường thủy thông Kinh Thành với bên ngoài qua hệ thống Ngự Hà là Đông Thành Thủy Quan và Tây Thành Thủy Quan. Chính giữa mặt trước thành có cột cờ, được gọi là Kỳ Đài.



Bên trong kinh thành

Bên trong Kinh thành, có nhà dân, nhà các quan lại ở và phần quan trọng nhất là Khu vực Hoàng Thành - nơi ở và làm việc của vua và hoàng gia.

Hoàng thành

Click the image to open in full size.
Điện Thái Hoà trong Hoàng thành


Hoàng thành Huế
Là vòng thành thứ hai bên trong kinh thành Huế, nơi ở của vua và Hoàng gia, cũng là nơi làm việc của triều đình. Ngoài ra Hoàng thành Huế còn là nơi thờ tự tổ tiên và các vị vua nhà Nguyễn.
Hoàng Thành được xây dựng năm 1804, nhưng để hoàn chỉnh toàn bộ hệ thống cung điện với khoảng hơn 100 công trình thì phải đến thời vua Minh Mạng vào năm 1833, mọi việc mới được hoàn tất. Hoàng Thành có 4 cửa được bố trí ở 4 mặt, trong đó cửa chính (ở phía Nam) là Ngọ Môn.
Bên trong Hoàng thành có Điện Thái Hoà, là nơi thiết triều; khu vực các miếu thờ; và Tử Cấm thành - nơi ăn ở sinh hoạt của vua và hoàng gia. Người ta thường gọi chung Hoàng Thành và Tử Cấm Thành là Đại Nội.

Tử Cấm thành

Click the image to open in full size.
Thái Bình Lâu trong Tử cấm thành, nơi vua đọc sách

Tử Cấm thành (Huế)
Là vòng thành trong cùng, nằm trong Hoàng thành. Tử Cấm thành nguyên gọi là Cung Thành, được khởi công xây dựng từ năm Gia Long thứ 2 (1803), năm Minh Mạng thứ 2 (1821) đổi tên thành Tử Cấm Thành.
Thành có hình chữ nhật, cạnh nam và bắc dài 341m, cạnh đông và tây dài 308m, chu vi 1300m[6]. Ở mặt trước, phía nam là cửa chính là Đại Cung Môn. Mặt bắc có 2 cửa Tường Loan và Nghi Phụng ,thời Bảo Đại, sau khi xây lầu Ngự Tiền Văn Phòng mở thêm cửa Văn Phòng. Mặt đông có hai cửa Hưng Khánh và Đông An, về sau lấp cửa Đông An, mở thêm cửa Duyệt Thị ở phía đông Duyệt Thị Đường. Mặt tây có 2 cửa: Gia Tường và Tây An. Bên trong Tử Cấm thành bao gồm hàng chục công trình kiến trúc với qui mô lớn nhỏ khác nhau, được phân chia làm nhiều khu vực.

Lầu Tứ Phương Vô Sự
Click the image to open in full size.

Tứ Phương Vô Sự Lâu được khôi phục, sẽ mang lại cho cố đô một công trình kiến trúc dưới thời vua Khải Định, giúp cho việc nghiên cứu sự giao thoa về văn hoá và kiến trúc Á - Âu ở Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX. 
Lầu Tứ Phương Vô Sự là công trình kiến trúc duy nhất của khu vực trên tường thành nằm ở phía bắc Hoàng Thành, cho nên việc trùng tu ngôi lầu được tỉnh Thừa Thiên - Huế rất quan tâm. Tới đây, việc khôi phục ngôi lầu sẽ được giao cho Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng (Bộ Xây dựng), đơn vị đã phục hồi, tôn tạo nhiều công trình có giá trị ở Huế như lăng Khải Định, cung An Định, lăng Thiệu Trị, hành lang Đại Nội, cung Trường Sanh…
Ngôi lầu được vua Khải Định cho xây dựng tại Bắc Khuyết Đài vào năm 1923, đặt tên là Tứ Phương Vô Sự Lâu (nghĩa là mong muốn thiên hạ thái bình, nhân dân an lành). Ban đầu, lầu dùng để nghỉ ngơi nhưng sau này, dưới thời vua Bảo Đại được dùng làm nơi học tập của các hoàng tử và công chúa. 
Tứ Phương Vô Sự Lâu là một công trình kiến trúc pha trộn Á - Âu: nền, tường, cửa và kỹ thuật mang phong cách châu Âu, còn mái và họa tiết trang trí lại đậm đặc kiến trúc Á Đông với hình mặt trời ở giữa, 2 con rồng chầu 2 bên theo kiểu hồi long trên nóc, 4 bờ quyết đắp nổi hình rồng. Cho đến nay, khu vực trên tường thành ở phía Bắc Hoàng Thành chỉ còn duy nhất công trình kiến trúc này. Nó bị phá hủy trong chiến tranh. Dù vậy, Tứ Phương Vô Sự Lâu vẫn còn nền móng, một số tường và vỉ kèo gỗ, gạch lát, chân trụ… nên việc khôi phục lại lầu Tứ Phương Vô Sự khá thuận lợi. 
Việc trùng tu công trình này sẽ đem lại cho Huế nhiều lợi ích. Tứ Phương Vô Sự Lâu được khôi phục, sẽ mang lại cho cố đô một công trình kiến trúc dưới thời vua Khải Định, giúp cho việc nghiên cứu sự giao thoa về văn hoá và kiến trúc Á - Âu ở Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX. Công trình này sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn chiều sâu kiến trúc đã và đang tồn tại ở thành phố Huế nói chung và Hoàng Thành nói riêng. 
Đồng thời, nó cũng làm phong phú hơn sự tồn tại các công trình từ những năm đầu thế kỷ XX ở Hoàng Thành Huế. Việc xây dựng lại lầu Tứ Phương Vô Sự sẽ mang lại một điểm nhấn cho không gian kiến trúc, văn hoá ở khu vực hậu của Hoàng Thành, góp phần thu hút du khách. 
Ngôi lầu được khôi phục, sẽ tạo nên cảnh quan môi trường, không gian ở khu vực phía Bắc Hoàng Thành, nhất là trên tường thành, sự thay đổi tích cực trong bối cảnh khu vực phía Bắc vốn đã rất ít công trình

Công trình nằm trên khuyết đài, cạnh cửa Hòa Bình, chính giữa mặt bắc của hoàng thành Huế bao gồm tòa nhà hai tầng rộng khoảng 150m2 theo phong cách thời Khải Định, tổng kinh phí 8,6 tỉ đồng, dự kiến xây dựng và hoàn thành trong năm 2009. Lầu Tứ phương vô sự được vua Khải Định cho xây dựng vào năm 1923, được ghi nhận là nơi học tập hằng ngày của các hoàng tử và công chúa giai đoạn cuối của triều Nguyễn, trải qua thời gian và chiến tranh tàn phá nay bị hư hỏng nặng nề .

Click the image to open in full size.

Điện Càn Thành

Điện Càn Thành trước năm 1811 có tên là điện Trung Hòa nằm trong Tử Cấm thành (Huế), đây là nơi ăn ngủ của vua triều Nguyễn. Công trình này đã trở thành phế tích.

Điện Càn Thành nằm sau điện Cần Chánh-nơi vua thiết triều, phía trước điện Khôn Thái-là chỗ ở của Hoàng Quý Phi. Phía trước điện, bên phải có điện Trinh Minh là nơi ở của các bà phi, bên trái có điện Quang Minh là nơi ở của Đông cung hoàng tử.
Bên phải, ở khoảng giữa điện Càn Thành và cung Khôn Thái là viện Thuận Huy- là chỗ ở các bà Tân. Phía Tây viện Thuận Huy là viện Đoan Huy, Đoan Thuận, Đoan Hoà, Đoan Trang và Đoan trường- là chỗ ở của các bậc Tiệp dư, Tài nhân, Mỹ nhân, Quý nhân cùng những tài nhân vị nhập giai, các viện trên gọi là "lục viện".
Bên phải điện Càn Thành là một vườn ngự uyển, trong đó có điện Minh Thận, hồ Quang Văn, gác Tứ Phương Vô Sự, lầu Nhật Thành...đều làm năm Thiệu Trị thứ nhất và bị triệt giải vào triều vua Thành Thái.
Trước điện có một sân rộng, giữa có đường dũng đạo lát đá, trước sân có một ao sen và một tấm bình phong.(còn tiếp)

Click the image to open in full size.

Các quan được ăn yến trong điện Càn Thành. Điện này giờ chỉ còn nền móng thôi.

Ảnh được chụp trong dịp Tứ tuần đại khánh (mừng 40 tuổi) của vua Khải Định, năm 1924. Đó cũng là lễ mừng sinh nhật cuối cùng của Khải Định.

Click the image to open in full size.

vài hình ảnh Vua Khải Định băng hà
Lễ an táng vua Khải Định

Vào những ngày 29-30-31 tháng 1 năm 1926 (dựa theo ngày tháng ghi trên hình)

Click the image to open in full size.

Lễ động quan ở điện Càn Thành

Click the image to open in full size.
Vua Bảo-Đại mặc tang phục đứng kế bên quan tài


Click the image to open in full size.
Toàn quyền Pháp đến dự lễ

Click the image to open in full size.
Lễ động quan với sự hiện diện của những yếu nhân

Click the image to open in full size.
Kiệu tang

Click the image to open in full size.
Đoàn đưa đám đi ra cổng thành

Click the image to open in full size.
Đoàn đưa đám

Click the image to open in full size.
Kiệu tang

Click the image to open in full size.
Tấm triện ghi tên họ và chức tước của Vua

Click the image to open in full size.
Đoàn sư dẫn hương linh

Click the image to open in full size.
Đàn voi đi mở đường

Click the image to open in full size.
Đoàn hát

Click the image to open in full size.
Lồng đèn giấy

Click the image to open in full size.
Lồng đèn giấy

Click the image to open in full size.
Đoàn đưa đám đi qua vùng Châu É

Click the image to open in full size.
Đoàn đưa đám đi qua vùng Châu É

Click the image to open in full size.
Cúng bái trên đường đi

Click the image to open in full size.
Đến nhà trạm trước lăng

Click the image to open in full size.
Vào lăng

Click the image to open in full size.
Chuyển quan tài vào lăng

Click the image to open in full size.
Toàn cảnh lăng

Click the image to open in full size.
Đồ mã (xe cộ, nhà cửa,... bằng giấy)

Click the image to open in full size.
Điện Kiên Trung bằng giấy

Click the image to open in full size.
Đốt đồ mã (cho vua dùng ở thế giới bên kia !)

Click the image to open in full size.
Dân chúng trên thuyền tham dự đám tạng
ĐIỆN LONG AN

Click the image to open in full size.

Ngoại thất điện Long An

Điện Long An được xây dựng năm 1845, thời vua Thiệu Trị (1841-1847), tại bờ Bắc sông Ngự Hà để làm nơi nghỉ lại của nhà vua sau khi ông tiến hành lễ cày ruộng Tịch Điền - lễ mở đầu cho vụ mùa mới, mỗi năm tổ chức một lần vào mùa xuân. Sau khi vua Thiệu Trị qua đời, đây cũng là nơi quàn thi hài của vua trong tám tháng, trước khi làm lễ Ninh lăng (đưa đi an táng). Ngoài nơi thờ chính thức trong Thế Miếu, bài vị của vua Thiệu Trị còn được đưa vào thờ tại điện Long An - nơi ông thường lui tới khi còn sống. Trong thời kỳ thất thủ kinh đô (1885), quân Pháp đã tràn vào ngôi điện, làm mất đi sự tôn nghiêm của một nơi thờ phụng. Vì thế, sau biến cố này, bài vị của vua Thiệu Trị được đưa vào thờ tại điện Phụng Tiên bên trong Đại Nội.

Click the image to open in full size. 
Nội thất điện Long An

Năm 1909, điện Long An được dời về vị trí hiện nay (số 3 Lê Trực - Huế) để làm một chức năng mới với tên gọi là Tân Thơ Viện - nơi lưu giữ hàng ngàn tư liệu bằng chữ Hán và cả chữ Pháp, chữ Anh - chủ yếu phục vụ cho các học sinh của trường Quốc Tử Giám gần đó. Năm 1913, Hội Đô Thành Hiếu Cổ được thành lập với mục đích sưu tầm và nghiên cứu những vấn đề liên quan đến lịch sử vùng đất Thừa Thiên Huế, những vấn đề văn hóa và mỹ thuật thời Nguyễn. Hội cũng ấn hành tập san riêng có tên Bulletin des Amis du Vieux Hué (tập san của Hội Đô Thành Hiếu Cổ, gọi tắt là B.A.V.H.) và lấy một góc của Tân Thơ Viện làm trụ sở. Hàng ngàn hiện vật được đưa về đây cất giữ, hàng trăm bài khảo cứu được xuất bản. Năm 1923, Tân Thơ Viện trở thành Bảo tàng Khải Định, gìn giữ và trưng bày những hiện vật do những hội viên của Hội Đô Thành Hiếu Cổ sưu tầm được.

Click the image to open in full size. 
Trang trí thi họa

Ngày nay, bảo tàng này vẫn còn hoạt động dưới sự quản lý của Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế với tên gọi Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế. Các sưu tập ở đây phong phú và đa dạng, phần lớn tập trung vào mảng đề tài mỹ thuật thời Nguyễn (1802-1945), gồm sưu tập y phục của hoàng gia, sưu tập đồ sứ, các đồ dùng trong sinh hoạt nơi cung cấm, những bộ tranh vẽ trên gương có tuổi thọ trên 150 năm, những bộ nhạc khí dùng trong các cuộc lễ hội chốn cung đình... Có lẽ, đây là bảo tàng duy nhất của Việt Nam hiện có một số lượng hiện vật khổng lồ của thời Nguyễn - triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam.

Click the image to open in full size. 
Vi kèo điện Long An

Có một lịch sử phức tạp như vậy, điện Long An đã gắn liền với những thăng trầm của Huế. May mắn thay, trải qua chiến tranh và thời gian hơn 154 năm, điện Long An vẫn còn khá nguyên vẹn với toàn bộ hệ thống kiến trúc bằng gỗ được làm theo kiểu trùng thiềm điệp ốc - kiểu kiến trúc cung đình phổ biến thời Nguyễn. Các hệ thống cột gỗ ở đây đều để mộc trơn, không sơn son thếp vàng. Nhưng bù lại, điện Long An có một hệ thống vì kèo được chạm trổ rất tinh xảo theo đồ án lưỡng long triều nguyệt (hai con rồng chầu vào mặt trăng) cùng các liên ba, đố bản có chạm khắc rất nhiều bài thơ. Hầu hết những bài thơ này đều do đích thân vua Thiệu Trị sáng tác. Thơ trang trí trong điện Long An được bố trí, sắp xếp ở hầu khắp trong-ngoài ngôi điện nhưng không bị lặp lại, không gây cảm giác nhàm chán. Sự phong phú ở đây được thể hiện không chỉ về nội dung, hình thức trình bày mà còn cả về thể loại thơ. Đặc biệt, điện Long An có hai tác phẩm thơ nổi tiếng của vua Thiệu Trị - đó là bài Vũ trung Sơn thủy (Cảnh trong mưa) và bài Phước Viên văn hội lương dạ mạn ngâm (Đêm thơ ở Phước Viên) được làm theo kiểu hồi văn kiêm liên hoàn gồm 56 chữ Hán nhưng có thể đọc thành 64 bài thơ. Những tác phẩm này không những thể hiện một tâm hồn thi sĩ của vua Thiệu Trị mà còn mang tính khoa học ở cách lý giải, cách giải mã trong phạm vi một số lượng chữ hạn hẹp nhưng lại chứa đựng một nội dung sâu xa rộng lớn hơn nhiều. Cho đến tận ngày nay, chung quanh việc giải mã những bài thơ của vua Thiệu Trị vẫn còn rất nhiều bàn cãi. Điện Long An, với tất cả vẻ đẹp về kiến trúc và mỹ thuật, xứng đáng là ngôi điện đẹp nhất hiện còn ở cố đô



ĐIỆN LONG AN
Click the image to open in full size. 

Ngoại thất điện Long An

Điện Long An được xây dựng năm 1845, thời vua Thiệu Trị (1841-1847), tại bờ Bắc sông Ngự Hà để làm nơi nghỉ lại của nhà vua sau khi ông tiến hành lễ cày ruộng Tịch Điền - lễ mở đầu cho vụ mùa mới, mỗi năm tổ chức một lần vào mùa xuân. Sau khi vua Thiệu Trị qua đời, đây cũng là nơi quàn thi hài của vua trong tám tháng, trước khi làm lễ Ninh lăng (đưa đi an táng). Ngoài nơi thờ chính thức trong Thế Miếu, bài vị của vua Thiệu Trị còn được đưa vào thờ tại điện Long An - nơi ông thường lui tới khi còn sống. Trong thời kỳ thất thủ kinh đô (1885), quân Pháp đã tràn vào ngôi điện, làm mất đi sự tôn nghiêm của một nơi thờ phụng. Vì thế, sau biến cố này, bài vị của vua Thiệu Trị được đưa vào thờ tại điện Phụng Tiên bên trong Đại Nội.

Click the image to open in full size. 
Nội thất điện Long An

Năm 1909, điện Long An được dời về vị trí hiện nay (số 3 Lê Trực - Huế) để làm một chức năng mới với tên gọi là Tân Thơ Viện - nơi lưu giữ hàng ngàn tư liệu bằng chữ Hán và cả chữ Pháp, chữ Anh - chủ yếu phục vụ cho các học sinh của trường Quốc Tử Giám gần đó. Năm 1913, Hội Đô Thành Hiếu Cổ được thành lập với mục đích sưu tầm và nghiên cứu những vấn đề liên quan đến lịch sử vùng đất Thừa Thiên Huế, những vấn đề văn hóa và mỹ thuật thời Nguyễn. Hội cũng ấn hành tập san riêng có tên Bulletin des Amis du Vieux Hué (tập san của Hội Đô Thành Hiếu Cổ, gọi tắt là B.A.V.H.) và lấy một góc của Tân Thơ Viện làm trụ sở. Hàng ngàn hiện vật được đưa về đây cất giữ, hàng trăm bài khảo cứu được xuất bản. Năm 1923, Tân Thơ Viện trở thành Bảo tàng Khải Định, gìn giữ và trưng bày những hiện vật do những hội viên của Hội Đô Thành Hiếu Cổ sưu tầm được.

Click the image to open in full size. 
Trang trí thi họa

Ngày nay, bảo tàng này vẫn còn hoạt động dưới sự quản lý của Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế với tên gọi Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế. Các sưu tập ở đây phong phú và đa dạng, phần lớn tập trung vào mảng đề tài mỹ thuật thời Nguyễn (1802-1945), gồm sưu tập y phục của hoàng gia, sưu tập đồ sứ, các đồ dùng trong sinh hoạt nơi cung cấm, những bộ tranh vẽ trên gương có tuổi thọ trên 150 năm, những bộ nhạc khí dùng trong các cuộc lễ hội chốn cung đình... Có lẽ, đây là bảo tàng duy nhất của Việt Nam hiện có một số lượng hiện vật khổng lồ của thời Nguyễn - triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam.

Click the image to open in full size. 
Vi kèo điện Long An

Có một lịch sử phức tạp như vậy, điện Long An đã gắn liền với những thăng trầm của Huế. May mắn thay, trải qua chiến tranh và thời gian hơn 154 năm, điện Long An vẫn còn khá nguyên vẹn với toàn bộ hệ thống kiến trúc bằng gỗ được làm theo kiểu trùng thiềm điệp ốc - kiểu kiến trúc cung đình phổ biến thời Nguyễn. Các hệ thống cột gỗ ở đây đều để mộc trơn, không sơn son thếp vàng. Nhưng bù lại, điện Long An có một hệ thống vì kèo được chạm trổ rất tinh xảo theo đồ án lưỡng long triều nguyệt (hai con rồng chầu vào mặt trăng) cùng các liên ba, đố bản có chạm khắc rất nhiều bài thơ. Hầu hết những bài thơ này đều do đích thân vua Thiệu Trị sáng tác. Thơ trang trí trong điện Long An được bố trí, sắp xếp ở hầu khắp trong-ngoài ngôi điện nhưng không bị lặp lại, không gây cảm giác nhàm chán. Sự phong phú ở đây được thể hiện không chỉ về nội dung, hình thức trình bày mà còn cả về thể loại thơ. Đặc biệt, điện Long An có hai tác phẩm thơ nổi tiếng của vua Thiệu Trị - đó là bài Vũ trung Sơn thủy (Cảnh trong mưa) và bài Phước Viên văn hội lương dạ mạn ngâm (Đêm thơ ở Phước Viên) được làm theo kiểu hồi văn kiêm liên hoàn gồm 56 chữ Hán nhưng có thể đọc thành 64 bài thơ. Những tác phẩm này không những thể hiện một tâm hồn thi sĩ của vua Thiệu Trị mà còn mang tính khoa học ở cách lý giải, cách giải mã trong phạm vi một số lượng chữ hạn hẹp nhưng lại chứa đựng một nội dung sâu xa rộng lớn hơn nhiều. Cho đến tận ngày nay, chung quanh việc giải mã những bài thơ của vua Thiệu Trị vẫn còn rất nhiều bàn cãi. Điện Long An, với tất cả vẻ đẹp về kiến trúc và mỹ thuật, xứng đáng là ngôi điện đẹp nhất hiện còn ở cố đô.

Đặc điểm: Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế là nơi trưng bày các bộ sưu tập đồ đồng, đồ sành, đồ sứ, đồ đá, đồ pháp lam, áo mão và đồ ngự dụng của vua chúa đời nhà Nguyễn.



Bảo tàng Mỹ thuật cung đình Huế nằm trong điện Long An của vua Thiệu Trị (1841-1847), là ngôi điện đẹp nhất trong hệ thống cung điện triều Nguyễn. Đây là thế giới của các cổ vật kim loại, vải vóc, pha lê, ngà, gỗ, đá..., và đặc biệt là hơn 3.700 hiện vật gốm sứ.



Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.



Bảo tàng Mỹ thuật cung đình Huế trước Cách mạng Tháng Tám gọi là Musée Khải Định, sau đổi thành Tàng cổ viện. Từ năm 1958 đến nay có nhiều tên gọi như Bảo tàng Huế, Bảo tàng Cổ vật.

Bảo tàng trưng bày và lưu giữ trên một vạn cổ vật và tác phẩm nghệ thuật, chủ yếu là của Việt Nam, bên cạnh Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản và một số nước khác.

Vào đây, ta như lạc vào thế giới vô giá các cổ vật đồ gốm sứ kim loại, vải vóc, pha lê, ngà, gỗ, đá, mây, tre. Những cổ vật và tác phẩm nghệ thuật này giúp chúng ta hiểu và hình dung được các sinh hoạt vào thời vàng son của các triều đại, mang những giá trị lịch sử, nghệ thuật và khoa học lớn. Chính đó là sự kết tinh của trí tuệ, thấm máu và mồ hôi của dân tộc qua hàng nghìn năm lịch sử.



Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.



Ngót suốt thế kỷ thực dân Pháp đô hộ và chiếm đóng, một lượng lớn cổ vật gốm sứ, tượng điêu khắc, đồ đồng, đồ đá, đồ gỗ bị săn đuổi, mua bán, chiếm hữu. Trong bài Historiaque du Musée viết năm 1929, viên khâm sứ Trung kỳ P.Jabouille cho biết: "Phần lớn cổ vật đã mãi mãi rời khỏi An Nam và Đông Dương để ra đi. Chúng đã được sưu tầm bởi những phòng phát mãi ở châu Âu và làm giàu thêm cho bộ sưu tập của người nước ngoài". Năm 1923 tại Paris, nhiều cuộc bán đấu giá đã bán một số lượng lớn các cổ vật và đồ mỹ nghệ của Việt Nam. Nhiều đồ vật còn bị thất thoát do chiến tranh hoặc mất cắp. Những năm 1947, 1968, 1972... không ít các cổ vật quý hiếm có kích thước nhỏ đã bị một số nhân vật quyền lực trong chính quyền cũ cướp đi.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.



Trong Bảo tàng Mỹ thuật cung đình Huế có bộ sưu tập quý các tượng Chăm được khai quật từ Trà Kiệu - Quảng Nam, và một số địa phương hai bên bờ sông Hương - Huế.

Bộ sưu tập đồng có bộ lư đồng của các nghệ nhân làng đúc đồng Ngũ Xã - Hà Nội.

Đặc biệt bộ súng Cửu vị thần công đúc xong năm 1804, là những kiệt tác trong kỹ thuật đúc đồng đầu triều Nguyễn. Kích thước chín khẩu đại bác này rất lớn, trọng lượng khẩu súng nhỏ nhất cũng nặng trên 10 tấn, nhằm biểu thị uy quyền các vị Hoàng đế triều Nguyễn. Đồ dùng, đồ dệt và các bộ y phục gợi lại một phần cuộc sống vương giả cung đình, những phong tục, nghi lễ, những buổi đại triều.

Bộ sưu tập gốm sứ của Bảo tàng có hơn ba nghìn bảy trăm hiện vật, đóng vai trò quan trọng đối với gốm sứ Việt Nam. Bao gồm gốm mộc, gốm hoa nâu, và gốm men ngọc thời Lý - Trần thế kỷ 11-14, gốm hoa lam thời Lê thế kỷ 16-17, thời Mạc thế kỷ 16, gốm trang trí thời Nguyễn Thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20. Một khối lượng lớn gốm sứ men trắng vẽ lam thời Minh - Thanh thế kỷ 14 đến đầu thế kỷ 20 bên Trung Quốc được mua bán và ban tặng sang Việt Nam. Gốm sứ Pháp, Nhật Bản cũng có mặt trong bảo tàng.

Theo các nhà khoa học, gốm sứ Việt Nam bắt đầu hình thành và phát triển từ đầu thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, kéo dài và thăng trầm qua suốt hai thiên niên kỷ...

Vào năm 1920-1930 tại Thanh Hóa, người ta tình cờ phát hiện dưới lòng đất hàng nghìn sản phẩm gốm sứ có niên đại từ thế kỷ 1 - 3 sau Công nguyên. Tại bãi gốm cổ làng Phù Lãng, Bắc Ninh tháng 12-1996, các nhà khảo cổ cũng tìm thấy dấu tích các lò gốm và mảnh gốm thời Trần. Các hiện vật trong những phát hiện quý giá này đều có mặt trong Bảo tàng Mỹ thuật Huế.

Qua các hiện vật gốm sứ được trưng bày và lưu giữ tại Bảo tàng, nhận thấy thời Lý - Trần thế kỷ 11-14 được đánh giá đạt trình độ chất lượng và mỹ thuật cao. Đến thời Trần thế kỷ 14, gốm sứ Việt Nam không những đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, mà còn xuất khẩu sang các nước trong khu vực. Từ thế kỷ 16-17, sứ trắng men lam được sản xuất rộng rãi với nhiều mô típ trang trí, nhiều kích cỡ và thể loại. Ngay sau khi chiến thắng quân Minh 1428, gốm sứ Việt Nam phát triển mạnh.

Các loại đĩa, lọ hoa, bình, chóe, lư hương, chân đèn, các loại gạch trang trí đã xuất khẩu sang cố đô vương quốc Majapahit đông Java - Indonesia, Philippines, Nhật Bản, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Công ty Đông ấn của Hà Lan đặt văn phòng tại Nam Kỳ và Bắc Kỳ năm 1640, vào những năm 1669, 1670, 1672 đã thu mua gốm sứ Việt Nam bán sang các nước phương Tây. Đến thế kỷ 15, xuất hiện các làng nghề gốm sứ Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng, Thanh Hà... sản xuất gốm sành nâu da lươn, vật liệu trang trí nội thất và xây dựng có kiểu dáng đa dạng, phong phú.

Tại Bảo tàng Mỹ thuật cung đình Huế có tới bảy trăm hiện vật gốm mộc, gốm tráng men từ thời Lý đến thời Nguyễn. Nhiều chiếc vò men nâu, đĩa men ngọc trang trí hoa lá, đế để mộc. Bảo tàng còn lưu giữ được mười hiện vật gốm thời Mạc, lối vẽ phóng bút hoặc đắp nổi hình rồng bay. Một số đĩa ăn và hai chiếc kandy thời Lê, trang trí hoa cúc cách điệu. Nhiều tượng Phật, Hộ pháp, Kim Cang, Quan Công, trong đó có bộ tượng Thập điện Minh Vương đạt đến trình độ mỹ thuật và kỹ thuật cao, tiêu biểu là tượng gốm thời Nguyễn.


Một lượng lớn cổ vật lưu giữ tại Bảo tàng là gốm sứ Trung Quốc, do vua chúa Việt Nam thời Lê - Trịnh, thời Nguyễn đặt mua từ Giang Tây, Quảng Đông, Phúc Kiến... Các nhà sưu tập và nghiên cứu đồ cổ gọi là gốm sứ ký kiểu, dùng phục vụ cho nghi lễ, tế tự, trang trí và sinh hoạt. Gốm sứ ký kiểu thường có kích thước lớn, các mô-típ trang trí hoa văn đặc trưng cho ngôi vị đế vương, cho sự giàu sang quyền quý, vẽ rồng năm móng, tứ linh, bát bửu, có nhiều hiện vật rất quý hiếm và độc đáo. Ngoài ra Bảo tàng Mỹ thuật cung đình Huế còn có hàng trăm sản phẩm gốm sứ Nhật Bản, Pháp..
VIỆN CƠ MẬT - TAM TOÀ

Click the image to open in full size. 
Tòa nhà chính ở Cơ Mật Viện
Tam Tòa, nằm ở địa chỉ 23 Tống Duy Tân, thuộc phường Thuận Thành, ở góc đông-nam bên trong kinh thành Huế, hiện là trụ sở của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế. Đây là một di tích mang nhiều biến cố lịch sử với nhiều lần thay đổi cả về chức năng, kiến trúc và tên gọi. 
Năm 1738, Chúa Nguyễn Phúc Khoác đã chọn nơi này để xây dựng thủ phủ Phú Xuân. Sau khi xây dựng xong thì đổi tên là Chính Dinh, và đến năm 1754 thì gọi là Đô Thành Phú Xuân - là trung tâm văn hóa chính trị xứ Đàng Trong của các Chúa Nguyễn cho đến năm 1775. Sau đó bị quân Trịnh chiếm đóng (1775-1786), rồi trở thành kinh đô của triều đại Tây Sơn (1786-1801). 
Năm 1802, vua Gia Long lên ngôi, mở ra một vương triều mới. Đồng thời Thủ phủ Phú Xuân cũng bị triệt giải và khu vực Tam Tòa hiện nay được dùng để xây chỗ ở cho Hoàng tử Đảm (sau này trở thành vua Minh Mạng).

Click the image to open in full size.
Voi quì trước cổng Cơ Mật Viện trước năm 1945
Năm 1816, khi hoàng tử Đảm được phong Hoàng thái tử và chuyển về nơi ở mới ở phía đông kinh thành, nơi đây trở thành nơi ở của Hoàng tử Nguyễn Phúc Chẩn (em vua Minh Mạng), và về sau trở thành nơi ở của Nguyễn Phúc Thiện Khuê - con trai trưởng của Nguyễn Phúc Chẩn. 
Năm Minh Mạng thứ 20 (1839), khu đất này được lấy lại để xây chùa Giác Hoàng - ngôi chùa được vua Thiệu Trị xếp vào một trong 20 thắng cảnh của đất thần kinh thời bấy giờ.

Click the image to open in full size. 
Tòa nhà chính Tam Tòa hiện nay

Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, sau khi Việt Nam mất hẳn chủ quyền vào tay thực dân Pháp, tòan bộ kiến trúc của chùa Giác Hoàng bị Pháp cho triệt giải để xây dựng Viện Cơ Mật (hoàn thành năm 1903) (tức Tam Tòa ngày nay). Tên gọi Tam Tòa là do dân gian đặt, vì trong khuôn viên này, ngoài công trình chính là Viện Cơ Mật, còn có hai dãy nhà hai bên. Dãy bên phải được xây làm văn phòng của các ông Hội lý người Pháp và dãy bên trái được xây làm Bảo tàng Kinh tế. Từ đó đến nay, di tích này không có gì thay đổi về mặt kiến trúc nhưng chức năng thì lại khác. 
Từ 1955 đến 1975, dưới chế độ cũ, hai dãy nhà hai bên trở thành văn phòng của các cơ quan tư pháp địa phương (tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế), còn tòa nhà chính (tức Viện Cơ Mật) được dùng làm nơi xét xử các vụ án từ sơ thẩm đến thượng thẩm.

Click the image to open in full size. 
Cổng chính Tam Tòa
Từ năm 1975 đến 1976, Ủy ban Quân quản Trị Thiên Huế đóng và làm việc tại khu vực này. Từ năm 1976 -1989, Tam Tòa trở thành trụ sở của Tỉnh ủy tỉnh Bình Trị Thiên, rồi Tỉnh ủy tỉnh Thừa Thiên Huế (1989 - 2000).
Tháng 10/2000 đến nay, Tam Tòa được chuyển giao cho Trung tâm BTDTCĐ Huế quản lý. 
Là cơ quan tư vấn của nhà vua gồm bốn vị đại thần từ Tam Phẩm trở lên, là Đại Học Sĩ của các điện Đông CácVăn MinhVõ Hiển và Cần Chánh. Thời vua Thành Thái có Thượng Thư Lục Bộ tham gia và viên Khâm Sứ Pháp làm chủ toạ. Thời vua Duy Tân đổi thành phủ Phu Chính. Viện lúc đầu đặt ở nhà Tả Vu. Sau khi kinh đô thất thủ năm 1885 phải dời đi đến nhà của bộ Lễ, rồi bộ Binh, và cuối cùng là về chùa Giác Hoàng cùng với toà Giám Sát (của người Pháp) và Trực Phòng các bộ nên gọi là Tam Toà.
Hiện nay Tam Tòa nằm ở địa chỉ 23 Tống Duy Tân, thuộc hường Thuận Thành, ở góc Đông-Nam bên trong kinh thành Huế, hiện là trụ sở của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế. Tam Tòa là một di tích gắn lền với bao thăng trầm của nhà Nguyễn với nhiều lần thay đổi tên , kiến trúc và vị trí , chức năng .
Cùng với Trường Quốc Tử Giám, lầu Tàng Thơ - hồ Ngọc Hải, hồ Tịnh Tâm , Viện Cơ Mật đã được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận xếp vào danh mục di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.

Viện Cơ Mật gắn liền với những sự kiện lịch sử đáng nhớ
.Năm 1738, Chúa Nguyễn Phúc Khoát đã chọn nơi này để xây dựng thủ phủ Phú Xuân sau đổi tên là Chính Dinh, từ năm 1754 - 1775 thì gọi là Đô Thành Phú Xuân . Sau đó bị quân Trịnh chiếm đóng (1775-1786), sau thành kinh đô của triều đại Tây Sơn (1786-1801). Năm 1802, vua Gia Long lên ngôi, mở ra một vương triều mới. Phú Xuân cũng bị san bằng và khu vực Tam Tòa hiện nay được dùng để xây chỗ ở cho Hoàng tử Đảm ( vua Minh Mạng về sau ). 

Năm 1816, khi hoàng tử Đảm chuyển về đông kinh thành, nơi đây thành nơi ở của Hoàng tử Nguyễn Phúc Chẩn (em vua Minh Mạng), sau là Nguyễn Phúc Thiện Khuê - con trai trưởng của Nguyễn Phúc Chẩn.
  • Năm Minh Mạng thứ 20 (1839), khu đất này được lấy lại để xây chùa Giác Hoàng. Nơi đây còn là tiềm để của vua Minh Mạng lúc còn nhỏ. Khi vua Minh Mạng chuyển qua ở dinh Thanh Hoà, dinh cũ để lại làm phủ đệ của ông hoàng Thiệu Hoá (Nguyễn Phước Chấn), con thứ 9 vua Gia Long. Năm 1839 vua Minh Mạng lại cấp đất khác cho ông hoàng Thiệu Hoá, lấy khu tiềm để cũ của mình xây dựng chùa Giác Hoàng. Năm Thiệu Trị 3 (1843) vua làm bài vịnh "Giác Hoàng phạn ngũ" ca tụng chùa là một trong 20 cảnh đẹp đất thần kinh. Sau sự kiện 1885, pháo binh thực dân Pháp chiếm chùa Giác Hoàng làm doanh trại. Các tượng Phật, đồ thờ cúng chuyển qua chùa Diệu Đế.
  • Năm 1903 - toàn bộ chùa Giác Hoàng bị Pháp san bằng để xây dựng Viện Cơ Mật. Viện Cơ Mật lúc bấy giờ chia làm 3 khu vực chính , khu nhà chính gọi là Viện Cơ Mật , dãy nhà trái là Bảo Tàng Kinh Tế, dãy nhà phải là văn phòng của Hội Lý người Pháp .
  • Từ 1955 đến 1975, hai dãy nhà hai bên trở thành văn phòng của các cơ quan tư pháp địa phương(tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế), còn tòa nhà chính (tức Viện Cơ Mật) được dùng làm nơi xét xử các vụ án từ sơ thẩm đến thượng thẩm.
  • Từ năm 1975 đến 1976, Ủy ban Quân quản trị Thiên Huế đóng và làm việc tại khu vực này. Từ năm 1976 -1989, Tam Tòa trở thành trụ sở của Tỉnh ủy tỉnh Bình Trị Thiên
  • , rồi Tỉnh ủy tỉnh Thừa Thiên Huế (1989 - 2000).
  • Tháng 10/2000 đến nay, Trung tâm bảo tàng di tích cố đô Huế quản lý di tích Viện Cơ Mật và Viện Cơ Mật trở thành văn phòng của Trung tâm bảo tàng di tích cố đô Huế. Hiện còn có giếng Thanh Phương và cổng tam quan của Viện Cơ Mật là dấu vết của chùa Giác Hoàng xưa
  • Tuy di tích được công nhận .là di tích quốc gia , tuy nhiên , lượng du khách đến đây khá ít vì không nằm trong cung đường tham quan. Viện Cơ Mật phản ánh một thời kỳ của lịch sử, gắn liền với bao thịnh suy của nhà Nguyễn , dù bao nhiêu lần bị tàn phá , sự thay đổi về kiến trúc lẫn chức năng , nhiệm vụ nhưng Viện Cơ Mật vẫn còn đó . Dù là một trong 20 cảnh đẹp của đất thần kinh nhưng hiện nay chùa Giác Hoàng đã không tồn tại , nó chỉ còn tồn tại trong ký ức của dân cố đô .


HỒ TỊNH TÂM

Click the image to open in full size.

Không gian hồ Tịnh Tâm

Click the image to open in full size.
Cầu Hồng Cừ đẫn đến đảo Bồng Lai ở Hồ Tịnh Tâm

Click the image to open in full size.
Hồ Tịnh Tâm

Click the image to open in full size.
Đảo Phương Trượng

Hồ Tịnh Tâm là một trong những cảnh nổi tiếng nhất của đất Kinh thành, nay thuộc địa phận phường Thuận Thành, Thành phố Huế. Nguyên xưa, hồ là một đoạn sông Kim Long được cải tạo lại, tên ban đầu là ao Ký Tế. Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), triều Nguyễn đã huy động tới 8000 binh lính tham gia vào việc cải tạo hồ, biến nó trở thành một Ngự Uyển của Hoàng gia. Sau khi hoàn thành, hồ mang tên mới là Tịnh Tâm.
Hồ Tịnh Tâm có bình diện hình chữ nhật, chu vi gần 1500m (354 trượng 6 thước). Trên hồ có ba hòn đảo Bồng Lai, Phương Trượng và Doanh Châu, đều là những trung tâm điểm của các kiến trúc trong hồ. Đảo Bồng Lai, ở phía nam hồ, chính giữa có điện Bồng Doanh, 3 gian 2 chái, mái trùng diêm, lợp ngói Hoàng lưu li. Điện xây mặt về hướng nam, có lan can gạch bao quanh, phía trước lại có cửa Bồng Doanh, rồi cầu Bồng Doanh nối đảo với bờ hồ phía nam. Phía đông điện Bồng Doanh có nhà Thủy tạ Thanh Tâm, quay mặt về hướng đông. Phía tây điện có lầu Trừng Luyện, quay mặt về hướng tây. Phía bắc là cửa Hồng Cừ và một chiếc cầu cùng tên.

Click the image to open in full size. 
Đảo Bồng Lai - Hồ Tịnh Tâm

Trên đảo Phương Trượng, chính giữa có gác Nam Huân, quay mặt về hướng nam, 2 tầng, mái lợp ngói hoàng lưu li. Phía nam có cửa Bích tảo và cầu Bích tảo. Phía bắc đảo có lầu Tịnh tâm, xây mặt hướng bắc. Phía đông có nhà Hạo Nhiên (từ năm 1848 đổi thành Thiên Nhiên), quay mặt về hướng đông. Phía tây có hiên Dưỡng Tính quay mặt về hướng tây. Giữa hai đảo có đình Tứ Đạt nằm giữa một hệ thống hành lang mái lợp ngói gồm 44 gian, chạy nối vào cầu Bích Tảo ở phía nam và cầu Hồng Cừ ở phía bắc.
Giữa hồ Tịnh tâm có đê Kim Oanh nối liền từ bờ đông qua bờ tây. Phía đông đê có cầu Lục Liễu, 3 gian, mái lợp ngói. Phía nam, đê gắn với một hành lang dài 56 gian, ở giữa là cầu Bạch Tần. Phía nam cầu có nhà tạ Thanh Tước để thuyền vua ngự. ở đoạn cuối phía tây của hành lang lại có nhà Khúc Tạ, thông với một nhà tạ khác, là Khúc Tạ Hà Phong qua một hành lang nhỏ dựng trên mặt nước. Phía nam nhà tạ này là đảo Doanh Châu.

Click the image to open in full size. 
Lầu Bát Giác trên đảo Bồng Lai 
(năm 1960)

Trên các góc của đảo Bồng Lai, Phương Trượng đều có xếp đá tạo các giả sơn. Riêng đảo Doanh Châu được tạo dáng như một hòn non bộ lớn nổi trên mặt hồ. Khắp nơi chung quanh đảo Bồng lai, Phương Trượng, đê Kim Oanh và dọc bờ hồ đều trồng các loại liễu trúc và các thứ hoa cỏ lạ. Dưới hồ chỉ trồng duy nhất loại sen trắng.
Hồ Tịnh Tâm được ngăn cách với bên ngoài bằng một vòng tường gạch xây khá cao. Ở bốn mặt trổ bốn cửa: Hạ Huân ở phía nam, Đông Hy ở phía bắc, Xuân Quang ở phía đông và Thu Nguyệt ở phía tây...
Với kiểu kiến trúc cầu kỳ, tinh mỹ nhưng hết sức hài hòa với tự nhiên, hồ Tịnh Tâm được xem là một thành tựu tiêu biểu của nghệ thuật kiến trúc cảnh quan Việt Nam thế kỷ XIX. Cảnh đẹp của hồ đã tạo nguồn thi hứng và trở thành đề tài cho nhiều bài thơ, chùm thơ nổi tiếng của các vua Nguyễn như Minh mạng, Thiệu Trị, Tự Đức... Nổi bật hơn cả vẫn là bài Tịnh Hồ Hạ Hứng, nằm trong chùm thơ ca ngợi 20 cảnh đẹp đất Thần Kinh của vua Thiệu Trị. Đương thời, bài thơ này cùng với phong cảnh hồ Tịnh tâm được vẽ vào tranh gương để treo ở các cung điện.

Click the image to open in full size.
Một góc Sen hồ Tịnh Tâm

Từ cuối thế kỷ XIX, do thiếu điều kiện chăm sóc, các kiến trúc ở khu vực hồ Tịnh Tâm bị hư hỏng dần hoặc bị triệt giải. Năm 1946, vòng tường gạch bao quanh hồ bị phá để xây dựng một vòng tường thấp hơn. Năm 1960, trên nền điện Bồng Doanh cũ có dựng một ngôi đình bát giác nhỏ để kỷ niệm. Trong lầu tu bổ này một cây cầu bê tông đã được xây dựng để nối đảo Bồng Lai với đê Kim Oanh...
Ngày nay, hồ Tịnh Tâm vẫn ở trong trạng thái phế tích. Tuy nhiên dự án phục hồi khu vườn Thượng Uyển có thắng cảnh thần tiên này đang được bộ Văn hóa - Thông tin và lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế đặc biệt quan tâm.
Vốn là khu thượng uyển nổi tiếng hàng đầu của vương triều Nguyễn, Tịnh Tâm từng được vua Minh Mạng làm thơ ca ngợi 10 bài liền với tiêu đề Bắc hồ thập cảnh. Vua Thiệu Trị lại xếp hạng Tịnh Tâm vị thứ 3 trong danh mục Thần Kinh nhị thập cảnh.
Ngự chế áng thơ Tịnh hồ mạn hứng (Cảm hứng mùa hè ở hồ Tịnh Tâm), vua Thiệu Trị ghi mấy dòng chú dẫn: “Hồ Tịnh Tâm trong veo muôn khoảnh, man mác hai hồ. Một dải đê dài, cầu cao như mống. Vui chơi khúc đàn Nam Phong trên gác Nam Huân, thỏa thích một trời, của nhiều no đủ. Xứng đáng cõi Thọ chốn Tây Trì, rõ ràng là danh thắng kinh đô. Phong quang vô hạn, chưa tận mắt ngắm trông e khó hình dung cảnh trí”.

Cảnh đẹp của hồ đã tạo nguồn thi hứng và trở thành đề tài cho nhiều bài thơ, chùm thơ nổi tiếng của các vua Nguyễn như Minh MạngThiệu TrịTự Đức... Nổi bật nhất là bài "Tịnh hồ hạ hứng", nằm trong chùm thơ ca ngợi 20 cảnh đẹp đất Thần Kinh của vua Thiệu Trị. Bài thơ này cùng với phong cảnh hồ Tịnh Tâm được vẽ vào tranh gương để treo ở các cung điện.
Tịnh hồ hạ hứng - 淨湖夏興 
Trừng luyện hàm không nhất vọng xa
Thiềm nha ảnh thủy trám tinh hà
Lâu đài hoa thụ trường sinh cảnh
Thiên địa sơn hà tứ hải gia
Vũ phiến mạn giao thi hóa nhật
Thuấn cầm uyển nhĩ nhập thi ca
Y nhiên nhân trí tình vô hạn 
Đồng lạc giao phu thảo vật gia.
(Thiệu Trị hoàng đế)

Hứng hè hồ Tịnh 
Hồ nước mênh mông lướt mắt qua 
Thềm hiên in bóng loáng ngân hà 
Cây hoa lầu gác lâu dài cảnh
Trời đất non sông bốn bể nhà
Quạt Vũ chẳng dùng che bóng nhật 
Khúc Nam chừng lắng lẫn thi ca 
Nẩy sinh nhân trí tình lai láng 
Cây cỏ cùng thêm vui với ta.
(Người dịch: Thiên Nhất Phương)

Ngô Văn Phú chuyển ngữ áng thơ Tịnh hồ mạn hứng như sau:

Trong vắt hồ giăng mấy khoảng xa,
Thềm soi đáy nước, loáng tinh hà.
Cây hoa, lầu gác, dường tiên cảnh,
Đất nước, non sông, thuộc mọi nhà.
Quạt chúa để suông, trời mát mẻ,
Đàn vua tiếng ngọt, nhập thơ ca.
Lâng lâng nhân trí, tình sâu rộng,
Cảnh sắc yêu người, chớ bỏ qua!

Quả thật, Tịnh Tâm không phải một, mà là hai hồ nước hình chữ nhật, cái nhỏ kề cái to; từ trên cao nhòm xuống nom y hệt bức “siêu thư pháp” viết giữa thiên nhiên một đại tự "Minh" – chữ Hán nghĩa là “sáng tỏ”.

Nguyên ủy, đây là khúc sông Kim Long (một chi lưu của sông Hương) chảy qua làng Phú Xuân. Năm Ất Sửu 1805, vua Gia Long quyết định nắn dòng Kim Long để tạo mặt bằng xây dựng Kinh thành Huế. Thoạt tiên là cả dải hồ rộng, mang tên hồ Ký Tế. Vua Minh Mạng nối ngôi, tiếp tục quy hoạch cảnh quan kinh đô, chia hồ Ký Tế làm đôi: một bên là hồ Học Hải – nơi sẽ thiết lập Tàng Thư Lâu; còn một bên là hồ Tịnh Tâm – chỗ dành cho “đấng thiên tử” cùng hoàng thân quốc thích tiêu dao thưởng ngoạn và di dưỡng tinh thần. Vua Minh Mạng lại cho đắp đê Kim Oanh băng ngang hồ Tịnh Tâm và tiến hành kế hoạch sửa sang tôn tạo khu vực này.

Dưới sự chỉ huy của Đô thống hữu quân Nguyễn Tăng Minh và Tham tri bộ Hộ Đào Trí Phú, cả lực lượng 8.000 binh lính đã dốc sức xây dựng Tịnh Tâm thành một công trình to lớn nhất và xinh đẹp nhất so với tất cả ngự viên ở đế đô nói riêng, toàn quốc nói chung.


Click the image to open in full size.

Khắc khoải hương sen hồ Tịnh!
Hồ Tịnh với nổi tiếng với giống sen bách diệp. Ca dao miền Hương Ngự có câu:

Hồ Tịnh Tâm nhiều sen bách diệp

Đất Hương Cần ngọt quýt, thơm cam

Sen bách diệp là giống sen nhiều cánh nhỏ, màu hồng. Hạt sen thơm bùi được những người phụ nữ Huế chế biến thành những món đặc sản của địa phương mình. Nhắc hương sen Hồ Tịnh không ai không nhớ đến cụ Ba Cu (tức Nguyễn Văn Vỹ) - một quan lại trong đám cựu trào hoàng thân ở Huế. Ông là người khai thác sen lâu nhất ở hồ Tịnh Tâm trong khoảng thời gian 40 năm, cho đến năm 1965. Những năm đầu thế kỷ 20, dưới thời cụ Ba Cu là một trong những thời kỳ hồ Tịnh Tâm cực thịnh về sen. Vào thời gian này, du khách phương xã đến xứ Huế vẫn thấy nao lòng bởi chén chè sen hồ Tịnh. Chị Hoàng Thị Tâm, hậu duệ một vị quan ở triều Nguyễn, sống gần hồ Tịnh Tâm cho biết: Đến Huế du khách không chỉ được thưởng thức mùi vị da diết, nượm đồng của những chén chè sen hạt trắng mịn mà còn thấy nao lòng bởi mùi khói, mùi thơm ngây ngây, phong nhị của gương sen phơi khô được đem đun thay củi mỗi khi chiều về. 
Hương sen Hồ Tịnh còn giúp thư giãn tinh thần, là đề tài muôn thuở của các bậc thi nhân đất Thần Kinh. Xưa kia vua Minh Mạng, Thành Thái “tinh thần bất an” đã ra đây nghỉ dưỡng. Không ai xa lạ, chính vua Minh Mạng - vị vua tài ba nhất triều Nguyễn, đã làm 10 bài thơ vịnh cảnh, hương sen hồ Tịnh. Vào mùa hè sen nở “hương thơm bay xa đến mười dặm”. Hồ Tịnh còn là nơi tổ chức các buổi yến tiệc, vịnh thơ, thưởng hoa của các tân tiến sỹ sau khi lễ “truyền lô” được xướng lên. Ngoảnh về quá khứ, hương sen hồ Tịnh vang bóng một thời, Lòng hồ Tịnh Tâm - nơi được xem là “thánh địa” của những loài sen quí .

Nỗi lòng vua Thành Thái: “Bể Cấp bốn bề bủa sóng vây”


Cả thành phố Vũng Tàu rạo rực chào đón Festival biển đầu tiên sẽ chính thức khai mạc vào ngày 11.4.2006. Nhân dịp này, một phòng trưng bày các tư liệu và di vật của nhà vua yêu nước Thành Thái - người có 12 năm sống trong cảnh “cá chậu chim lồng” ở phố biển cũng được khai trương tại khu di tích Bạch Dinh... 
...Cùng với lễ hội bắn súng thần công, việc trưng bày di vật của vua Thành Thái là sự tái hiện lịch sử sống động nhiều ý nghĩa của Festival biển 2006.

Súng thần công bắn đạn thật tại Bạch Dinh ở Núi lớn Vũng tàu
Click the image to open in full size.


Khởi đầu tấn bi kịch gia đình 
Vua Tự Đức của nhà Nguyễn lấy trên một trăm bà vợ nhưng không có con nên phải nuôi ba người cháu ruột của mình làm con nuôi là Ưng Chân, Ưng Kỷ và Ưng Đường. Sau khi vua Tự Đức băng hà năm Quí Mùi-1883, để lại di chiếu cho Quốc công Ưng Chân nối ngôi. Đó là vua Dục Đức. Tuy nhiên, mới ngồi trên ngai vàng được ba ngày, vua Dục Đức bị hai phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết truất phế, tống giam, bức hại đến chết, đem xác vùi trên một ngọn đồi, không một ai được phép đưa tang. Cho đến 20 năm sau, khi người con trai thứ bảy của vua Dục Đức là hoàng tử Bửu Lân ngồi lên ngai vàng thì vua Dục Đức mới được khôi phục đế hiệu, xây lăng tẩm.
Cái chết bi thảm của vua Dục Đức mở đầu cho tấn bi kịch của gia đình ông trong một giai đoạn lịch sử bi hài của một triều đại phong kiến bất lực trước nạn ngoại xâm. Chỉ trong vòng bốn tháng, tiếp sau vua Dục Đức, ngai vàng đẫm máu nhà Nguyễn trải thêm hai đời vua nữa là Hiệp Hoà và Kiến Phúc mà lịch sử gọi là “tứ nguyệt tam vương”. Tấn bi kịch chưa dừng lại. Cái ngai vàng ấy lại liên tục đổi chủ trong một thời gian ngắn thêm bốn đời vua: Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, trong đó có ba vị vua yêu nước bị thực dân Pháp truất phế, bắt đày biệt xứ; chỉ có riêng ông vua bù nhìn Đồng Khánh thì yên vị được ba năm. 

Vua Đồng Khánh đột ngột chết, các con còn quá nhỏ, triều thần thương nghị đưa hoàng tử Bửu Lân con vua Dục Đức lên ngôi. Sử chép rằng, lúc đoàn quan quân với cờ xí uy nghi đến rước, hoàng tử Bửu Lân mới 10 tuổi sợ quá hét lên: “Các ông đến làm chi? Bắt tôi à? Các ông muốn làm chi thì làm nhưng phải đợi ả tôi về đã”. Thân mẫu của Bửu Lân là hoàng hậu Từ Minh đang vắng nhà, nghe tin chạy về, nghẹn ngào khóc van xin: “Lạy các quan! Xin các quan tha cho mẹ con tôi. Tôi không bao giờ quên cái chết vô cùng thê thảm của chồng tôi. Tôi cũng không quên rằng các vua Hiệp Hoà, Kiến Phúc đều đã bị giết và vua Hàm Nghi thì bị đi đày”. Rồi hai mẹ con bà Từ Minh ôm nhau khóc nức nở! Tuy nhiên, cuối cùng cậu bé Bửu Lân cũng buộc phải về triều làm lễ đăng quang, trở thành hoàng đế Thành Thái chỉ ba giờ sau đó.
Mồ côi cha từ năm mới 4 tuổi, sống cơ cực gần gũi với bà con lao động, nhờ đó vua Thành Thái hiểu được nỗi thống khổ của nhân dân và sớm có ý thức về thân phận của ông vua bù nhìn trước cảnh nước mất nhà tan. Chuyện rằng, một lần vua Thành Thái đang đi bộ trên cầu Gia Hội thì gặp phải một người vác tre. Quân lính vội vàng chạy lên định dẹp đường, vua ngăn lại bảo: “Cứ để cho người ta đi! Mình dân không phải là dân, vua không phải là vua, tại sao dẹp người ta làm chi?”. Nhà vua còn thực hiện nhiều chuyến vi hành, tranh thủ các dịp đi săn bắn để hoà nhập, tìm hiểu đời sống dân tình, nhằm thực hiện các dự định cải cách triều chính, canh tân đất nước. Đồng thời không ít lần ông bày tỏ thái độ bất hợp tác với các viên khâm sứ Pháp. Phong độ khác thường của vua Thành Thái so với bậc tiên đế nhu nhược Đồng Khánh đã chiếm được cảm tình, nể trọng của nhân dân.
Vua cha vua con cùng bị đày biệt xứ 
Lòng yêu nước thương dân và tinh thần tự cường dân tộc của vua Thành Thái ngày càng làm cho thực dân Pháp lo ngại. Chúng đã tìm cách ngăn cản mọi việc làm của ông. Tệ hại hơn, chúng còn phao tin đồn nhảm rằng nhà vua bị điên để hạ uy tín và dễ bề truất phế. Trong cuốn Kể chuyện vua quan nhà Nguyễn (Nxb Thuận Hoá-1997), ông Phạm Khắc Hoè nguyên đổng lý văn phòng vua Bảo Đại cho biết: “Qua đầu năm 1907, Thành Thái định đi Thanh Hoá viếng lăng các chúa ở Triệu Tường rồi tuần du ra Hà Nội, với hai hộ giá đại thần là Lê Trinh và Cao Xuân Dục, nhưng khâm sứ nhất định không đồng ý, lấy cớ là cuộc ngự giá Bắc tuần sẽ tốn kém quá, ngân sách không chịu nổi”. Biết tin, vua Thành Thái rất bất bình, đã phản ứng bằng cách chiêu mộ một số phụ nữ lập đội nữ binh, đích thân nhà vua ngày ngày dạy họ cưỡi ngựa bắn súng. Phản ứng khác thường này bị viên khâm sứ Pháp ở Huế lợi dụng cho rằng vua Thành Thái điên thật, báo cáo lên quan toàn quyền và Bộ thuộc địa để truất phế nhà vua. 



Sau khi bàn bạc với Hội đồng thượng thư nhà Nguyễn bù nhìn, ngày 29.7.1907, viên khâm sứ Pháp tuyên bố: “Nhà vua không thành thật cộng tác với chính phủ bảo hộ thì từ nay mọi việc Hội đồng thượng thư cứ tuỳ nghi mà làm”, rồi thông báo cho Thành Thái biết rằng nhà vua đã bị tước quyền hành và cấm rời khỏi nơi ở là điện Cần Thành trong Đại Nội. Đến ngày 3.9.1907, được lệnh của Toà khâm sứ Pháp, các quan đại thần nhà Nguyễn vào điện Cần Thành vái lạy vua Thành Thái và dâng một tờ biểu có chữ ký của tất cả các đại thần (trừ Thượng thư Ngô Đình Khả) cùng dự thảo chiếu thoái vị để nhường ngôi cho con mình là hoàng tử Vĩnh San. Vua Thành Thái cầm lấy đọc lướt bản dự thảo, nhếch mép cười ghi “phê chuẩn” rồi quay lưng bỏ đi.
Sự kiện thoái vị của ông vua yêu nước Thành Thái đã làm cho giới sĩ phu và nhân dân cả nước thêm kính trọng nhà vua, đồng thời càng thêm bất bình hành động ngang ngược của thực dân Pháp cùng sự nhu nhược của giới quan lại “mũ cao áo rộng” bù nhìn nhà Nguyễn. Rõ ràng các vị đại thần ấy chẳng xứng đáng là “bề tôi” của vị vua đầy lòng tự trọng, có tinh thần yêu dân yêu nước, không cam chịu làm con rối để bọn ngoại xâm dễ dàng sai bảo.
Để tránh mối nguy hại tiềm ẩn, ngày 12.9.1907 thực dân Pháp đã ra lệnh áp giải vua Thành Thái vào Sài Gòn, rồi đưa xuống quản thúc ở Cap Saint Jacques (tên của thành phố Vũng Tàu thời Pháp thuộc, hay gọi tắt là Cấp). Trong khi đó ở ngoài Kinh thành Huế, người con trai của ông là hoàng tử Vĩnh San mới 8 tuổi đã bị buộc ngồi lên ngai vàng, trở thành hoàng đế Duy Tân. Cái gien Thành Thái truyền sang Duy Tân, với tính cách và hành động của bậc quân vương đầy lòng tự tôn dân tộc, mong muốn đưa đất nước thoát khỏi ách ngoại bang, nên 12 năm sau-1919 vua Duy cũng bị thực dân Pháp truất phế đưa vào Cap Saint Jacques, để rồi ngay sau đó cả hai cha con cùng bị đày biệt xứ sang tận đảo Réunion của châu Phi.

Bể Cấp bốn bề bủa sóng vây

Bạch Dinh
Trong 12 năm bị quản thúc tại Vũng Tàu, vua Thành Thái ở tại Bạch Dinh, còn gọi Biệt thự trắng nằm triền phía nam núi Lớn, cao gần 30m, sát biển Bãi Trước. Năm 1907, cha con vua Thành Thái – Duy Tân rời Bạch Dinh lên tàu đi lưu đày. Năm 1947, cựu hoàng Thành Thái mới được trở về Tổ quốc, mà nơi ông đặt chân đầu tiên cũng chính là nơi cuối cùng ông đau lòng cất bước ra đi 40 năm trước. Đây cũng là thời khắc mà nhà nhiếp ảnh Võ An Ninh đã ghi lại bằng nhiều bức ảnh lịch sử. 
Về đến đất Cấp - Vũng Tàu trong hoàn cảnh đôi mắt đã bị mù loà, cựu hoàng Thành Thái không nhìn được cảnh vật quê hương, nhưng tâm hồn và trái tim yêu nước vẫn “nghe” vẫn “thấy” được hơi thở của giống nòi còn đớn đau trước tiếng súng tái xâm lược của quân Pháp. Không tuyên ngôn, không diễn văn mà còn mạnh hơn diễn văn, tuyên ngôn, ấy chính là những vần thơ thất ngôn bật lên từ đáy lòng của một ông vua-thi-sĩ, một nhân cách đáng kính:
“Nào ngờ còn có đến hôm nay
Nhìn thấy non sông đất nước này
Sừng ngựa chưa quên câu chuyện cũ 
Ruột tằm chín khúc mối thù Tây
Thành Xuân muôn dặm mây mù tịt
Bể Cấp bốn bề bủa sóng vây
Tiếng súng đì đùng như khúc nhạc
Dẫu cho sắt đá cũng chau mày”

Thái tử Đan nước Yên bên Trung Hoa ngày xưa bị bạo chúa Tần Thuỷ Hoàng bắt làm con tin ở nước Tần và hẹn bao giờ ngựa mọc sừng mới cho về. Câu chuyện “sừng ngựa” đã “vận” vào số phận của hai cha con vua Thành Thái - Duy Tân. Tuy nhiên, may mắn hơn người con trai của mình, Thành Thái còn có dịp được “nhìn thấy non sông đất nước này”, dù đằng sau chuyến “qui cố hương” ấy là mưu đồ của Pháp lợi dụng nhà vua vào mục đích chính trị. Có điều, những tên “cao thủ” thực dân đâu ngờ rằng tận đáy lòng con người từng chống đối chúng, từng bị chúng gán ghép là “điên” vẫn “chưa quên câu chuyện cũ”, vẫn canh cánh “mối thù Tây”. Đây là bài thơ đầu tiên của Thành Thái khi về nước và cũng là bài thơ cuối cùng ông viết tại Vũng Tàu, sau đó ông về sống tại Sài Gòn cho đến năm 1954 thì mất, thi hài được đưa ra Huế chôn cất trong lăng vua cha Dục Đức.


Bể Cấp vẫn còn đó. Bạch Dinh vẫn còn đó...

Ngắm nhìn những di vật, đọc lại những vần thơ rút ruột của vua Thành Thái năm nào, chúng ta càng hiểu hơn, thông cảm hơn, kính trọng hơn tinh thần và nhân cách của một ông vua yêu nước nhưng bất lực trước thời cuộc, trước vận mệnh quốc gia “bốn bề bủa sóng vây”. Cái “chau mày” đau đớn của vua Thành Thái cũng chính là nỗi đớn đau của nhiều bậc tiền nhân một thuở...

Phu Văn Lâu
Click the image to open in full size.
Phu văn lâu thời xa xưa

Click the image to open in full size.
Trưa ghé Phu Văn Lâu mà nghe văng vẳng đâu đây giọng ai não ruột vọng về từ trong miền ký ức xa xưa:
“Chiều chiều trước bến Văn Lâu,
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm?
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông?”

Click the image to open in full size.
Rước bảng vàng ra Phu Văn Lâu.

nằm trên trục chính của Hoàng thành Huế, từ Kỳ đài nhìn ra sôngHương
có hai công trình kiến trúc rất duyên dáng tô điểm cho bộ mặt của Kinh thành Huế. Một trong hai công trình ấy là Phu Văn Lâu - Cái lầu trưng bày văn thư của triều đình. Phu Văn Lâu được xây dựng vào năm 1819 dưới thời vua Gia Long, dùng làm nơi niêm yết những chỉ dụ quan trọng của nhà vua và triều đình, hoặc kết quả các kỳ thi do triều đình tổ chức. Năm 1829, vua Minh Mạng dùng nơi đây làm địa điểm tổ chức cuộc đấu giữa voi và hổ, năm 1830 ông lại tổ chức cuộc vui chơi yến tiệc suốt 3 ngày để mừng sinh nhật của mình.

Phu Văn Lâu là ngôi nhà hai tầng duyên dáng, quay mặt về hướng nam. Dưới thời vua Thiệu Trị, triều đình cho dựng ở hai bên hai tấm bia đá khắc 4 chữ "khuynh cái hạ mã", nghĩa là ai đi qua đều phải cởi mũ và xuống ngựa. Từ năm 1821, sau khi truyền lô, danh sách các khoa danh tiến sĩ được đem niêm yết tại đây. Vì tính cách long trọng như vậy nên hai bên lầu có hai bia đá "khuynh cái hạ mã" nhắc nhở tất cả mọi người đi ngang qua Phu Văn Lâu phải "nghiêng nón xuống ngựa" để tỏ lòng kính cẩn. 
Hai bên mặt trước Phu Văn Lâu có đặt hai khẩu súng thần công nhỏ bằng đồng hướng vào nhau.


Năm 1829 đã từng có một cuộc đấu giữa voi và cọp trước lầu để cho vua Minh Mạng ra xem. Vào các dịp tứ tuần, ngũ tuần của Minh Mạng có nhiều cuộc vui khác được tổ chức ở đây. Về sau các vua Thiệu TrịTự Ðức cũng giữ cái lệ ấy nhân những ngày khánh thọ của mình. Vua Thiệu Trị xem sông Hương và lầu Phu Văn là một trong 20 cảnh đẹp ở chốn Thần Kinh. Năm 1843 Thiệu Trị cho dựng một nhà bia bên tay phải lầu để khắc bài thơ Hương Giang Hiểu Phiếm (buổi sớm bơi thuyền trên sông Hương).
  • Bão năm Thìn (1904) thổi bay lầu Phu Văn, vua Thành Thái cho làm lại giống y như cũ.
  • Phía trước mặt Phu Văn Lâu là một ngôi nhà nằm kế bên sông Hương gọi là Nghinh Lương Ðình. Ðây là nơi dùng để các vua tắm sông, hóng gió, ngắm cảnh.
  • Vào đầu thời Gia Long (1802-1819), đây chỉ là một toà nhà nhỏ có tên Bảng đình, dùng làm nơi công bố các chiếu thư, chỉ dụ của nhà vua hoặc các bảng thi Hội, thi Đình cho dân chúng. Năm 1819, Bảng đình được thay thế bằng một toà kiến trúc hai tầng mái với 16 cây cột, xung quanh không có vách, tạo nét thanh tú và độc đáo với tên gọi là Phu Văn Lâu. Phu Văn Lâu còn là nơi ban phát lịch hoặc các sinh hoạt vui chơi dành cho dân chúng do triều đình tổ chức...Thời Minh Mạng, nhà vua quy định sau khi các chiếu thư được tuyên đọc ở Ngọ Môn hoặc điện Thái Hoà sẽ được đặt trên long đình, có che lọng và quân lính theo hầu hai bên để đưa ra niêm yết tại Phu Văn Lâu. Các quan hàng tỉnh và hương lão phải đến quỳ lạy trước chiếu thư.
  • Gần bên phải Phu Văn Lâu còn có tấm bia trên khắc bài thơ "Hương giang hiểu phiếm” nói về cảnh đẹp của sông Hương, một trong hai mươi thắng cảnh đất thần kinh mà vua Thiệu Trị đã ca ngợi. Phu Văn Lâu đã được tu bổ nhiều lần nhưng vẫn giữ nguyên cốt cách đặc trưng của kiến trúc thời Nguyễn. Để tạo điều kiện cho việc bảo tồn và phát huy giá trị của di tích độc đáo này, công trình đã được lập hồ sơ xin công nhận di tích lịch sử-văn hoá cấp quốc gia.


Bến Phu Văn Lâu, Nghênh Lương Đình và Kỳ đài

Năm 1916, Trần Cao VânThái Phiên ngồi giả câu cá gần Phu Văn Lâu để bí mật gặp vua Duy Tân bàn việc khởi nghĩa. Chẳng may việc bất thành, vua Duy Tân bị quân Pháp bắt và bị đày ở đảo Réunion.
Cầu này bị bao phen nước cuốn hoặc bị chiến tranh tàn phá, chứng kiến và đau lòng trước bao cảnh hưng vong của lịch sử cận đại. Con thuyền trôi dưới cầu tuy có vẻ mơ màng vô định, nhưng nó cũng có thể chở một Trần Cao Vân giả ngồi câu cá, để cùng vua Duy Tân bàn việc phục quốc chống xâm lăng (1916):


Chiều chiều trước bến Văn Lâu,
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm? 
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông? 
Thuyền ai thấp thoáng bên sông, 
Nghe câu mái đẩy, chạnh lòng nước non! 

Nằm trên trục lộ chính của quần thể di tích cố đô Huế - Phu Văn Lâu như tô điểm cho vẻ đẹp thơ và mộng của Huế , khoác thêm cho kinh thành Huế một cái nhìn đầy đặn và Phu Văn Lâu như tô điểm thêm cho sông Hương một chiếc áo mới , cổ kính và trầm mặc .Nghênh Lương Đình như một điểm dừng chân cho du khách , một nơi nghỉ chân của người bộ hành và là một điểm tham quan trong chương trình tham quan một di sản văn hóa . Không to tát , không vĩ đại , nhưng Phu Văn Lâu như một minh chứng cho một thời kỳ lịch sử gắn liền với một nhà vua yêu nước Duy Tân

Phu Văn Lâu trong ca khúc Ai ra Xứ Huế , nhạc và lời:Duy Khánh. Lời ca khúc có đoạn:
Ai ra xứ Huế thì ra. Ai về là về Bến Ngự . Ai về là về Văn Lâu. Bến Văn Lâu còn sâu thương nhớ. Thuyền Bến Ngự còn đợi khách về. Người tình quê, ơi người tình quê, có nhớ xin trở về.(còn tiếp)


Click the image to open in full size.


Nghênh Lương Đình
Nghênh Lương Tạ là một công trình nằm trên trục dọc từ Kỳ đài ra đến Phu Văn Lâu được xây dựng dưới thời Nguyễn dùng làm nơi nghỉ chân của nhà vua trước khi đi xuống bến sông để lên thuyền rồng hoặc làm nơi hóng mát. Đây là một di tích trong quần thể di tích cố đô Huế.
Nghênh Lương Tạ được xây dựng dưới triều vua Tự Đức thứ 5 (1852), năm Thành Thái thứ 15 (1903) được trùng tu cẩn thận và đến năm khải Địnhthứ 3 (1918) lại được tôn tạo thêm một lần nữa để phục vụ vua thường xuyên đến nghỉ mát, từ thời Khải Định về sau gọi là Nghênh Lương Đình - chữ Nghênh Lương Tạ có nghĩa là nhà Thủy Tạ để hóng mát. Trước đây, triều đình cho ngăn con đường đi từ cửa Thể Nhơn (tức Cửa Ngăn) ra Nghênh Lương Đình, không cho ai qua lại hoặc thấy mặt vua.
Nghênh Lương Tạ có kết cấu kiến trúc kiểu phương đình 1 gian 4 chái, phía trước và phía sau đều có nhà vỏ cua nối dài ra. Bộ khung gỗ ở phần trên, nhất là các vì vỏ cua cùng hệ thống liên ba được chạm trổ công phu. Mái nhà chính lợp ngói ống lưu ly vàng, hai nhà vỏ cua lợp ngói liệt menvàng. Nền Nghênh Lương Tạ cao 90cm, bó vỉa bằng gạch vồ và đá thanh, phía bờ sông có 13 bậc cấp dẫn xuống một hành lang xây sát mặt nước sông Hương. Cảnh quan xung quanh nhà tạ thoáng đãng và rất trữ tình.

Click the image to open in full size.
Nghênh Lương Đình

Click the image to open in full size.

Xét về cấu trúc không gian ở trục trước mặt Kinh thành, Nghênh Lương Tạ là điểm nối kết giữa Kỳ Đài - Phu Văn Lâu - Hương Giang - Ngự Bình. Và đây cũng là vị trí đẹp để ngắm nhìn, cảm nhận vẻ đẹp lãng mạn của sông Hương vào lúc bình minh, khi hoàng hôn hay trong đêm trăng sáng.
Nguyên xưa Nghênh Lương Tạ là một phần của hành cung Hương Giang dựng từ năm Tự Đức thứ 5 ở bờ bắc sông Hương, trước mặt toà Phu Văn Lâu. Ngoài hành cung này, tại khu vực Huế, các vua Nguyễn còn có nhiều hành cung khác như hành cung Thần Phù, hành cung Thuận Trực, hành cung Thuận An, hành cung Thúy Vân...Tất cả các hành cung này đều có dựng nhà tạ để phục vụ nhà vua, tuy nhiên, đến nay duy chỉ có Nghênh Lương Tạ của hành cung Hương Giang là còn tồn tại.
Hình ảnh Nghênh Lương Đình được in trên tờ tiền polyme mệnh giá 50.000 đồng.
Nghênh Lương Đình là một công trình được xây dựng dưới thời Nguyễn, dùng làm nơi nghỉ chân của nhà vua trước khi đi xuống bến sông để lên thuyền rồng hoặc làm nơi hóng mát. Trước đây, người ta phải ngăn con đường đi từ cửa Thể Nhơn (dân gian còn gọi là cửa Ngăn) ra Nghênh Lương Đình, không cho ai qua lại hoặc thấy mặt vua. 
Tuy không phải là một công trình đặc sắc về kiến trúc hoặc có quy mô lớn, nhưng Nghênh Lương Đình là một bộ phận không thể tách rời của cụm kiến trúc Nghênh Lương Đình-Phu Văn Lâu và Kỳ đài. Nghênh Lương Đình còn đi vào người bằng cái tên "bến Văn Lâu" trong đoạn ca dao bất hủ:
Chiều chiều trước bến Văn Lâu
Ai ngồi, ai câu
Ai sầu, ai thảm
Ai thương, ai cảm
Ai nhớ, ai trông
Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Nghe câu mái đẩy chạnh lòng nước non. 
Cùng với Phu Văn Lâu, Nghênh Lương Đình cũng đã qua nhiều lần tu bổ và đang được lập hồ sơ di tích lịch sử cấp quốc gia.

Kho tàng mộc bản trong biệt thự Trần Lệ Xuân

Click the image to open in full size. 
Bản in Nội Các Quan Bản

Mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697)

Hình vẽ trong mộc bản

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size. 
Một mộc bản dưới triều Vua Minh Mạng

Click the image to open in full size.
Mộc bản đang được bảo quản tại trung tâm -

Tọa lạc tại số 2 Yết Kiêu, thành phố Đà Lạt, khu biệt thự Trần Lệ Xuân lộng lẫy rộng trên 13 ngàn mét vuông vừa được nâng cấp trở thành Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV. Nơi lưu giữ hơn 30 ngàn mộc bản triều Nguyễn. 
Mộc bản là bản gỗ khắc chữ ngược để in thành sách. Dưới triều Nguyễn các chiếu, dụ, chỉ của nhà vua hay các sách quốc sử, sách chuyên khảo về giáo dục, địa chí được biên soạn, in ấn bằng mộc bản. Bản chính của các văn bản này gọi là châu bản. Mộc bản được làm bằng "gỗ cây nha đồng, tục danh là sống mật, sớ gỗ trắng, sáng ngời như ngà voi" (trích Đại Nam Nhất Thống Chí). Theo một cán bộ của trung tâm thì vào năm Minh Mạng thứ 1 (1820) Quốc Sử Quán ra đời, là nơi đầìu tiên làm mộc bản. Đến năm Tự Đức thứ 2 (1849) đã cho xây dựng thêm Tàng Bản Đường để lưu trữ mộc bản. Trong hơn 100 năm tồn tại, Quốc Sử Quán đã biên soạn nhiều bộ sử sách giá trị. Qua nhiều đời vua triều Nguyễn, việc lưu giữ tài liệu mộc bản luôn được quan tâm. Quốc Tử Giám (Hà Nội) ngoài chức năng đào tạo giáo dục còn tiếp nhận bảo quản tu bổ mộc bản in sách được thu chuyển từ Bắc Thành về, là nơi để học sinh - sinh viên tham khảo nghiên cứu. 
Năm 1933, Quốc Tử Giám bị bãi bỏ, nhà trường được dùng làm trụ sở thư viện đầu tiên của Nam Triều. Năm 1937 đổi thành Thư viện Bảo Đại, về sau được đổi tên Viện Văn hóa Trung Phần. Năm 1959, toàn bộ văn khố Hoàng Triều gồm châu bản, mộc bản, địa bộ và sách Ngự Lãm được chuyển từ Viện Văn hóa Trung Phần về Đà Lạt, lúc đó được chọn làm "Kinh đô" của Hoàng Triều cương thổ, được Cục Lưu trữ quốc gia (Đà Lạt) âm thầm gìn giữ, bảo quản khá nguyên vẹn trong hàng chục năm. Từ vài năm qua, Cục Lưu trữ quốc gia tại Đà Lạt được đầu tư nâng cấp để trở thành Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV; là nơi thu thập, lưu giữ tài liệu của 19 tỉnh - thành phố miền Trung, Tây Nguyên và các cơ quan trung ương đóng trên địa bàn.

Hiện nay, khoảng 34 ngàn châu bản, mộc bản (đa số khắc chữ trên hai mặt) của triều Nguyễn đang được Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV bảo quản trong kho chuyên dụng, đạt tiêu chuẩn quốc tế, hiện đại nhất Việt Nam thời điểm này. Theo các cán bộ của trung tâm, nếu xếp nối mộc bản sẽ có chiều dài trên 16 km. Thời gian qua, trung tâm đã in dập, phân loại, hệ thống hóa, quét và ghi toàn bộ bản dập tài liệu mộc bản vào CD-Rom để lưu giữ phục vụ mục đích tra cứu; xây dựng chương trình quản lý tài liệu mộc bản vào máy tính. Một nhà nghiên cứu sử học cho rằng đây là kho tư liệu quý, có thể cung cấp cho giới nghiên cứu nguồn tài liệu phong phú, đáng tin cậy khi nghiên cứu lịch sử Việt Nam cận đại. 
Mộc bản triều Nguyễn gồm 34.555 tấm mộc bản, “chế bản” của 152 đầu sách với nhiều chủ đề khác nhau như lịch sử, địa lý, chính trị-xã hội, quân sự, pháp chế, giáo dục, văn thơ... Tài liệu mộc bản có nhiều tác phẩm quý hiếm như "Đại Nam thực lục", "Đại Nam nhất thống chí", "Khâm định Việt sử thông giám cương mục", "Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ"..., ngoài ra còn có các tác phẩm "Ngự chế văn", "Ngự chế thi" do các vị hoàng đế nổi tiếng như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức sáng tác.

Kết hợp làm du lịch và nghiên cứu?

Trước đây, khu biệt thự Trần Lệ Xuân rất nổi tiếng vì có kiến trúc đẹp, tọa lạc trên một triền đồi chập chùng thông xanh. Độc đáo hơn, trong khuôn viên có một hồ bơi nước nóng trước biệt thự Bạch Ngọc, hiện nay đã được phục chế nguyên trạng. Khu hành chính hiện nay của trung tâm là biệt thự Lam Ngọc - nguyên là nơi nghỉ cuối tuần của gia đình Trần Lệ Xuân và các tướng tá ngụy quyền thời đó, còn nhà khách trung tâm hiện nay nguyên là khu biệt thự Hồng Ngọc lộng lẫy được Trần Lệ Xuân dành riêng cho bố đẻ là luật sư Trần Văn Chương, nguyên Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Hoa Kỳ.

Tại đây còn có một hoa viên, hồ nước có mô hình bản đồ Việt Nam đang được trung tâm khôi phục lại. Với những "lợi thế" có sẵn đó, được biết trung tâm đang dự định lập đề án sưu tập - trưng bày triển lãm tài liệu (chọn lọc) một số châu bản, mộc bản và các tác phẩm văn học, cổ vật... phục vụ mục đích nghiên cứu và tham quan du lịch. Nếu đề án này được thực hiện sẽ có thêm một địa chỉ du lịch văn hóa hấp dẫn trên thành phố ngàn hoa Đà Lạt.

Đã có hàng trăm bài viết, cuốn sách và công trình nghiên cứu về chế độ gia đình trị ở miền Nam Việt Nam dưới thời Ngô Đình Diệm. Hầu hết những tài liệu đã công bố, đăng tải về lịch sử giai đoạn này đều có đề cập đến cặp vợ chồng "đệ nhất" Ngô Đình Nhu - Trần Lệ Xuân. Tuy nhiên, những thông tin về sự khởi nghiệp của Ngô Đình Nhu và "đệ nhất biệt điện" - nơi hưởng lạc xa hoa lộng lẫy của gia đình họ Ngô ở Đà Lạt thì không hẳn đã nhiều người biết đến. Xin cung cấp thêm những thông tin lý thú tới các bác về nội dung này.

Click the image to open in full size.
Một góc biệt điện Trần Lệ Xuân lúc mới xây dựng.

Đệ nhất biệt điện Lam Ngọc
Thời kỳ gia đình họ Ngô còn thống trị miền Nam, giới tướng lĩnh ngụy quyền và nhiều người dân thượng lưu Sài Gòn biết đến khu biệt điện xa hoa lộng lẫy bậc nhất của gia đình Ngô Đình Nhu - Trần Lệ Xuân ở số 2 Yết Kiêu (phường 5 - Đà Lạt hiện nay). Sau nửa thế kỷ, sự lộng lẫy và vẻ mỹ lệ của khu biệt điện này không hề mất đi. 
Khu biệt điện từng được xem là "đệ nhất trời Nam" được khởi công từ năm 1958 có ba toà biệt lập với các tên gọi Bạch Ngọc, Lam Ngọc và Hồng Ngọc. Bạch Ngọc là nơi giải trí của gia đình Trần Lệ Xuân và các tướng tá thời kỳ "Đệ nhất Cộng hòa"; Lam Ngọc dùng làm nơi nghỉ cuối tuần của riêng gia đình Lệ Xuân còn Hồng Ngọc là biệt thự mà "bà Nhu" xây tặng cho Trần Văn Chương, bố đẻ của mình. Lúc khởi công xây dựng cụm biệt điện này, gia đình họ Ngô đang thời kỳ "làm mưa làm gió" ở miền Nam nên Trần Lệ Xuân đã huy động tối đa nhân, vật lực và tinh hoa kiến trúc nhân loại để thể hiện đến đỉnh cao uy quyền và sự giàu sang phú quý của chủ nhân. Nội thất của tất cả các biệt thự trong tổng khuôn viên 13.000m2 có đầy đủ phòng làm việc, hội họp, phòng khiêu vũ. Ngoài sân có hồ bơi nước nóng, vọng đài và một vườn hoa do những kỹ sư được thuê từ Nhật Bản sang thiết kế (nên còn gọi là vườn hoa Nhật Bản). Điểm thú vị, độc đáo của vườn hoa Nhật Bản phía sau biệt thự Lam Ngọc là có một hồ sen khi bơm đầy nước trên hồ này sẽ hiện rõ hình địa đồ Việt Nam. Giữa địa đồ thu nhỏ này còn có cả dải phân cách thể hiện Vĩ tuyến 17 chia cắt Bắc - Nam. Giấc mộng bá quyền cuồng loạn và mưu đồ chia cắt vĩnh viễn Tổ quốc Việt Nam đã theo người đàn bà quyền lực bậc nhất miền Nam một thời đến tận chốn hưởng lạc cuối tuần này! Đặc biệt, trong biệt thự Lam Ngọc có hầm trú ẩn được thiết kế bằng thép có thể chống đỡ được sức công phá của đạn B40 và đường hầm thoát hiểm mà cho đến tận ngày nay người ta vẫn chỉ có thể phỏng đoán các đường hầm trong nhà đều dẫn ra sân bay Cam Ly(?). 

Click the image to open in full size.
Biệt thự Lam Ngọc 1 hiện là một trong những điểm tham quan ưa thích của du khách đến Đà Lạt.

Cũng chẳng ai còn nhớ Trần Lệ Xuân đã phải bỏ ra bao nhiêu triệu Mỹ kim để xây dựng nên cụm biệt điện đặc biệt này nhưng vẻ đẹp lộng lẫy, tinh tế đến từng cái rãnh thoát nước của khuôn viên thì vẫn trường tồn với thời gian sau gần nửa thế kỷ "triều Ngô" kết thúc. Có lẽ cũng chính vì sự nuối tiếc một thời vàng son ở chốn bồng lai tiên cảnh nên những ngày cuối đời định cư tại Pháp trong sự cô quạnh của tuổi bát tuần, “bà Nhu” vẫn mang theo bên mình tấm ảnh chụp khu biệt điện này chăng?

Và điều ít biết về Ngô Đình Nhu
Khu biệt điện của Trần Lệ Xuân nổi tiếng đến mức sau ngày nền "Đệ nhất Cộng hòa" sụp đổ và anh em Diệm - Nhu chết thảm như một sự trả giá cho những tội ác khét tiếng họ Ngô đã gây ra cho đồng bào miền Nam, hàng nghìn người từ khắp nơi, có cả nhiều người Mỹ đã tìm về Đà Lạt để chiêm ngưỡng khu biệt điện này. Nhiều người cao tuổi tại “thành phố hoa” kể rằng, cùng với sự lộng lẫy, xa hoa, khu biệt điện Trần Lệ Xuân còn được bảo vệ đặc biệt nghiêm ngặt. Suốt những năm dưới thời Ngô Đình Diệm, khu biệt điện này luôn có tới hàng chục cảnh sát ngụy túc trực bảo vệ 24/24 giờ. Một con chim lạ bay vào khu vườn cũng có thể bị bắn chết vì nghi ngờ chim đưa... bom thư! Với hàng núi nợ máu mà chế độ "gia đình trị" Ngô Đình Diệm gây ra cho những người yêu nước ở miền Nam lúc bấy giờ thì sự đề phòng của Trần Lệ Xuân cũng là lẽ thường. 

Click the image to open in full size.
Gia đình Ngô Đình Nhu - Trần Lệ Xuân những ngày ở biệt điện số 2 Yết Kiêu - Đà Lạt .

Click the image to open in full size.
Ngô Đình Diệm cùng hai cháu Ngô Đình Trác, Ngô Đình Quỳnh – con trai Ngô Đình Nhu trong khuôn viên biệt điện

Sau đó toàn bộ toà biệt điện đã được chính quyền Nguyễn Văn Thiệu sung làm Bảo tàng sắc tộc Tây Nguyên. Tuy nhiên từ sau 1975 và những năm tiếp theo, khu biệt điện "Đệ nhất trời Nam" này đã không ngừng bị xâm hại, xuống cấp. Nhiều tiểu công trình kiến trúc quý giá trong khuôn viên biệt điện bị đập phá, trộm cắp. Những phòng ốc mỹ miều có khi bị người dân tận dụng để... nuôi súc vật. Hồ nước, đài sen dùng làm nơi nuôi cá! Trước khi được trùng tu để làm Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV, đi ngang khu biệt điện này người ta vẫn nhận ra sự mỹ miều trên từng lối cỏ nhưng có cảm giác nặng nề, âm khí vì sự hủy hoại của thời gian và con người. 

Click the image to open in full size.
Mộc bản triều Nguyễn lưu giữ tại Trung tâm.

Đầu năm 2007, Bộ Nội vụ đã quyết định đầu tư hơn 53 tỷ đồng trùng tu khu biệt điện Trần Lệ Xuân làm cơ sở cho Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV. Hiện, trung tâm này đã chính thức đi vào hoạt động. Đây chính là nơi bảo quản, lưu giữ hơn 30.000 mộc bản cực kỳ quý giá của triều Nguyễn mà chính Ngô Đình Nhu những ngày mới tốt nghiệp trường Ecole Nationale des Chartes - trường đào tạo lưu trữ viên cổ tự học danh tiếng của Pháp - đã từng sưu tầm. Theo tiến sĩ Đào Thị Diến (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I), trong công trình nghiên cứu "Ngô Đình Nhu - Nhà lưu trữ Việt Nam thời kỳ 1938 - 1946", tính đến năm 2007, Ngô Đình Nhu là "người Việt Nam đầu tiên và duy nhất tốt nghiệp Trường đào tạo cổ tự viên Ecole Nationale des Chartes”. Hiện nay, trong các chuyên đề lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV, có một tiểu chuyên đề về "Ngô Đình Nhu - Nhà lưu trữ". Xét ở khía cạnh văn hóa, đây là điều khá thú vị về Ngô Đình Nhu mà chắc chắn nhiều người chưa được biết đến từ trước tới nay.(vh)


Click the image to open in full size.
Biệt thự Lam Ngọc

Click the image to open in full size.
Biệt thự Hồng Ngọc

Click the image to open in full size.
Biệt thự Bạch Ngọc

Click the image to open in full size.
Vườn hoa Nhật Bản.
Tòa Thương Bạc
tọa lạc bên bờ Nam sông Hương, bên ngoài cổng Thượng Tứ, là một di tích thuộc quần thể di tích cố đô Huế.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.
Dưới triều Nguyễn, vua Minh Mạng cho xây dựng Cung Quán còn gọi là Công Quán tại phía Đông - Bắc kinh thành Huế, ở bên trong cửa Đông Bắc (cửa Kẻ Trài), trước mặt đồn Mang Cá là trụ sở để đón tiếp các sứ thần nước ngoài. Năm Tự Đức 28 (1875), do không muốn đón tiếp các sứ giả ngoại quốc trong khu vực Kinh Thành nên vua Tự Đức cho làm Thương Bạc Viện tại vị trí mới, bên ngoài của Thượng Tứ (cửa Đông Nam), bao gồm nhiều công trình để tiếp đón các sứ thần và là nơi làm việc hàng ngày của các quan lo việc ngoại giao, đồng thời cũng để tiện việc đối phó với các đại diện của toà Khâm sứ Pháp.
Ngày 6 tháng 6 năm 1884, trên một chiếc tàu đậu giữa sông Hương, trước tòa Thương Bạc, đại diện nhà Nguyễn là các đại thần: Nguyễn Văn Tường, Phạm Thuận Duật, Tôn Thất Phan; đại diện Pháp là Đại sứ Patenôtre đã ký kết Hòa ước Patenôtre, còn gọi là Hòa ước Giáp Thân. Đây là hòa ước cuối cùng nhà Nguyễn ký với thực dân Pháp để công nhận sự đầu hàng của mình.
Sau ngày kinh đô Huế thất thủ (5 tháng 7 năm 1885), tướng Tôn Thất Thuyết đem vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở (Quảng Trị), tòa Thương Bạc không còn được dùng làm nơi đón tiếp các sứ giả nước ngoài nữa, mà lần lượt làm bản doanh của quân đội Pháp, tiếp đến làm phủ của các đại thần, làm trường Hậu Bổ, trường Uyên Bác và cuối cùng làm Viện Cổ học, trước khi nó bị bỏ hoang rồi sụp đổ dưới triều vua Bảo Đại.
Năm 1936, vua Bảo Đại cho phát hoang và dựng lên đó một tiểu đình, cách vị trí Thương Bạc Viện cũ khoảng 100m để ghi nhớ di tích ấy. Công trình này được xây bằng vật liệu mới như xi măng, sắt thép; mặt nền hình bát giác, mái chia 2 tầng lợp ngói lưu ly, cấu trúc thanh nhã, hài hòa với cảnh vật xung quanh. Nghệ nhân Nguyễn Văn Khả (Kiển Khả) là người nhận thầu công trình này.
Thi sĩ tiền chiến Ưng Bình Thúc Giạ Thị (1877-1961), cháu nội Tuy Lý Vương, nhân tới chơi tiểu đình Thương Bạc, nhớ chuyện ký hòa ước năm xưa (1884), có cảm tác một bài thơ luật mà thi sĩ Quách Tấn còn nhớ được bốn câu:
…Võng bác Thượng thơ ra trước bến,
Tàu ông Nguyên soái đậu ngoài khơi. 
Giảng hòa mực ký xong hai chữ, 
Bảo hộ cờ bay đã mấy đời.


Quốc Tử Giám
Quốc Tử Giám ở Huế, nay là Bảo tàng lịch sử Thừa Thiên Huế, là di tích trường đại học duy nhất thời phong kiến còn tồn tại ở Việt Nam. Đây là một di tích lịch sử, văn hóa có giá trị cao. Ngày 11 tháng 12 năm 1993, Quốc Tử Giám cùng với hệ thống di tích cung đình triều Nguyễn đã được ghi tên vào danh mục Di sản thế giới.


Click the image to open in full size.
Quốc Tử Giám Huế


Quốc Tử Giám trước đây thuộc địa phận làng An Bình, giáp với làng Long Hồ Hạ, huyện Hương Trà, thành phố Huế là trường Ðại học quốc gia ngày xưa do triều đình mở ra để đào tạo nhân tài. Ở nước ta, Quốc Tử Giám đầu tiên đã được thành lập vào năm 1076 tại Kinh đô Thăng Long dưới thời Lý . Ngay từ đầu nó đã có tên gọi là Quốc Tử Giám và từ đó về sau nó vẫn giữ nguyên vị trí ở kinh đô Thăng Long, trong khuôn viên Văn Miếu Hà Nội ngày nay.
Đến đầu triều Nguyễn, sau khi thống nhất đất nước, vua Gia Long đã quyết định xây dựng kinh đô tại Huế. Năm 1803 , vua Gia Long xây dựng Đốc Học Đường - đây được xem là trường quốc học đầu tiên được xây dựng dưới triều Nguyễn. Trường được xây tại địa phận An Ninh Thượng, huyện Hương Trà, cách kinh thành Huế chừng 5 km về phía Tây, trường nằm cạnh Văn Miếu, mặt hướng ra sông Hương .
Thời Gia Long, qui mô kiến trúc của trường còn nhỏ, chỉ gồm một tòa chính ở giữa và hai dãy nhà hai bên, dùng làm chỗ để quan Chánh, Phó Đốc Học giảng dạy.
Tháng 3 năm 1820, vua Minh Mạng cho đổi tên thành trường Quốc Tử Giám. Lúc này Quốc Tử Giám được phát triển to lớn hơn. Quốc Tử Giám tiếp tục xây dựng và hoàn thiện tiếp sau đó.
Năm 1821, vua cho dựng tòa Di Luân Đường, một tòa giảng đường và hai dãy nhà học hai bên Di Luân Đường, mỗi dãy 19 gian phòng học, làm chỗ cho sinh viên đọc sách, làm bài.
Click the image to open in full size.
Bia trước Quốc Tử Giám - Huế
Đến thời vua Tự Đức, trường được tiếp tục xây dựng và mở mang thêm. Năm 1848, xây thêm tường bao bọc và dãy cư xá, mỗi bên 2 gian. Trường cũng mở thêm 2 cửa nhỏ hai bên để sinh viên ra vào. Vì lúc bấy giờ cả nước chỉ có một trường Quốc Học nên tập trung một lượng sinh viên về học rất đông. Một lần ghé thăm trường, vua Tự Đức đã làm một bài văn gồm 14 chương để răn dạy và khuyến khích sinh viên học hành. Toàn bộ nội dung bài văn này được khắc vào tấm bia dựng trước sân trường. Do bão Giáp Thìn năm 1904, trường bị hư hỏng nặng, nhưng sau đó, trường được phục hồi.
Đến năm 1908, thời vua Duy Tân, Quốc Tử Giám được dời vào bên trong Kinh thành, bên ngoài, phía Đông Nam Hoàng thành (tức vị trí hiện nay). So với kiến trúc cũ, Quốc Tử Giám mới được xây dựng mới thêm nhiều công trình phụ, trong đó, kiến trúc cũ của Di Luân Đường được giữ nguyên. Hai bên là hai dãy phòng học vẫn như cũ và cư xá sinh viên ; phía sau trường, ở giữa là tòa Tân Thơ Viện, hai bên là nhà ở của quan Tế Tửu, Tư Nghiệp (hiệu trưởng, hiệu phó) và các viên chức khác của trường. Trong số các công trình kiến trúc này, Di Luân Đường, Tân Thơ Viện và tòa nhà dành cho vị Tế Tửu Quốc Tử Giám ở là những công trình kiến trúc gỗ theo phong cách truyền thống có giá trị nghệ thuật cao (Tân Thơ Viện, Di Luân Đường đều có nguồn gốc từ các công trình kiến trúc của Cung Bảo Định). Năm 1923, Tân Thơ Viện trở thành Bảo Tàng Khải Định nên trường Quốc Tử Giám phải lập một thư viện mới mang tên Thư Viện Bảo Đại ở phía sau Di Luân Đường.
Năm 1945, sau khi triều đình nhà Nguyễn chấm dứt vai trò lịch sử của mình, Quốc Tử Giám cũng không thay đổi kiến trúc kể từ đó đến nay
Dù đã chấm dứt vai trò của mình, thế nhưng trường Quốc Tử Giám đóng góp hết sức to lớn trong việc đào tạo nhân tài cho đất nước, là nơi lưu lại dấu chân của hơn 500 vị tiến sĩ, phó bảng của triều Nguyễn. Cùng với Văn Miếu Quốc Tử Giám - Quốc Tử Giám Huế đã đóng góp công sức của mình trong việc đào tạo nhân tài của đất nước, phản ánh một thời kỳ của lịch sử và là một trung tâm đào luyện nhân tài của đất nước. Kể từ khi Quốc Tử Giám Huế ra đời đến nay, nền giáo dục đại học ở Huế đã có lịch sử gần hai thế kỷ .Tuy nhiên, trong lịch sử , việc dời Quốc Tử Giám vào Phú Xuân Huế đồng nghĩa với việc chấm dứt việc thi Hội - thi đình tại Thăng Long .

Trường Quốc Tử Giám

Click the image to open in full size.


Click the image to open in full size.


Click the image to open in full size.


Click the image to open in full size.

Quốc Tử Giám hiện nay còn khá nguyên vẹn, và khá may mắn so với một số công trình khác trong quần thể di tích cố đô Huế.


Cung An Định 
tọa lạc bên bờ sông An Cựu, xưa thuộc phường Đệ Bát- Thị xã Huế, nay tại số 97 đường Phan Đình Phùng, Thành phố Huế là cung điện riêng của vua Khải Định từ khi còn là thái tử đến khi làm vua, sau này được Vĩnh Thụy thừa kế và từng sống ở đây sau khi thoái vị.




Cung An Định và bến thuyền


Nguyên tại vị trí này từ năm Thành Thái14 (1902), Phụng Hóa Công Nguyễn Phúc Bửu Đảo (tức vua Khải Định sau này) đã lập phủ riêng, đặt tên là phủ An Định. Đến sau khi lên ngôi, vào năm 1917 Khải Định đã dùng tiền riêng để cải tạo lại theo lối kiến trúc hiện đại. Đầu năm 1919, công việc xây dựng hoàn tất, cung vẫn giữ nguyên tên gọi. Từ ngày 28/2/1922, cung An Định trở thành tiềm để của Đông Cung Thái tử Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại về sau). Sau Cách mạng tháng Tám 1945, gia đình cựu hoàng Bảo Đại đã chuyển từ Hoàng cung qua sống tại cung An Định. Sau năm 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm đã tịch thu cung An Định. Sau năm 1975 bà Từ Cung đã hiến cung An Định cho chính quyền cách mạng . Cung An Định được sử dụng như một khu nhà tập thể cho gia đình các giáo sư Đại học Huế và bị xuống cấp nghiêm trọng cho đến năm 2001 mới được phục hồi, trùng tu. Đến nay sáu bức bích họa ở Khải Tường Lâu dưới sự giúp đỡ của CHLB Đức đã được phục hồi theo phương pháp phục hồi hoàn nguyên và sử dụng các chất bảo quản nhằm ngăn chặn những tác hại của môi trường, trả lại diện mạo vốn có của nó trong nội điện di tích cung An Định . Sau khi điện Long An (nơi đặt Bảo tàng Mỹ thuật cung đình Huế) đóng cửa để thực hiện dự án trùng tu, toàn bộ hiện vật của bảo tàng đã được đưa đến cung An Định để trưng bày


Click the image to open in full size.
Tranh tường ở cung An Định
Cung An Định quay mặt về hướng nam, phía sông An Cựu. Cung có địa thế bằng phẳng, tổng diện tích mặt bằng 23.463m2, chung quanh có khuôn viên tường gạch, dày 0,5m, cao 1,8m trên có hàng rào song sắt bao bọc . Khi còn nguyên vẹn cung có khoảng 10 công trình. Từ trước ra sau là: Bến thuyền, Cổng chính, đình Trung Lập, lầu Khải Tường, nhà hát Cửu Tư Đài, chuồng thú, Hồ nước... trải qua thời gian và sự tàn phá của chiến tranh, đến nay cung chỉ còn lại 3 công trình khá nguyên vẹn là Cổng chính, đình Trung Lập và lầu Khải Tường. Cổng chính làm theo lối tam quan, hai tầng, trang trí bằng sành sứ đắp nổi rất công phu. Đình Trung Lập, nằm phía trong cửa, kết cấu kiểu đình bát giác, nền cao. Trong đình nguyên có đặt bức tượng đồng vua Khải Định, tỷ lệ bằng người thật, đúc từ năm 1920.


Click the image to open in full size.


Click the image to open in full size.

Phục chế tranh tường tại Cung An Định dưới sự giúp đỡ của các chuyên gia bảo tồn Đức (thuộc Dự án đào tạo, bảo tồn và phục chế của Đức - GCREP

Lầu Khải Tường nằm phía sau đình Trung Lập, là công trình kiến trúc chính của cung An Định. Chữ Khải Tường (nghĩa là nơi khởi phát điềm lành), tên lầu là do vua Khải Định đặt. Lầu 3 tầng, xây dựng bằng các vật liệu mới theo kiểu lâu đài châu Âu, chiếm diện tích tới 745m2. Lầu được trang trí rất công phu, đặc biệt là phần nội thất của tầng 1 với các bức tranh tường có giá trị nghệ thuật rất cao.


Cung An Định được vua Đồng Khánh xây dựng cho con trai trưởng - hoàng tử Nguyễn Phúc Bửu Đảo và đặt tên là phủ Phụng Hóa. Năm 1916, sau khi vua Duy Tân bị giặc Pháp bắt đi đày, Bửu Đảo lên ngôi lấy niên hiệu là Khải Định. Năm 1917, vua Khải Định cho xây dựng lại phủ Phụng Hóa thành một tòa lâu đài nguy nga tráng lệ nhất VN thời đó, gọi là An Định cung và tặng cho hoàng tử Vĩnh Thụy (Bảo Đại). 
Cung An Định nằm bên dòng An Cựu (hiện mang số nhà 97 Phan Đình Phùng) được xây trên diện tích 2,5ha, gồm nhiều công trình khác nhau, trong đó lầu Khải Tường ba tầng là kiến trúc chính. Tại sảnh đường tầng 1


Click the image to open in full size.Click the image to open in full size.Click the image to open in full size.


Click the image to open in full size.Click the image to open in full size.


có sáu bức tranh trang trí có tuổi gần 90 năm. Những bức bích họa này được vẽ bằng sơn dầu trực tiếp lên các mảng tường và có khung gỗ ốp viền, chạm khắc hoa mai, lá sen cách điệu rất đẹp. 
Khổ khung tranh có hai loại: 1,8m x 1,1m và 1,6m x 1,4m. Sáu bức tranh này không đề tên, nhưng nhìn hình vẽ ai cũng có thể nhận ra phối cảnh thật của năm lăng: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh; còn một tranh chưa rõ vẽ công trình gì. Nét vẽ rất điệu nghệ, nêu bật đặc điểm phong cảnh và nét đẹp của từng lăng, chứng tỏ trình độ có hạng của tác giả.
Sau khi Bảo Đại thoái vị (tháng 9-1945), ông về sống ở cung An Định cùng mẹ là bà Từ Cung, vợ là hoàng hậu Nam Phương và con cái, người hầu. Đầu thập niên 1950, bà Nam Phương cùng các con qua Pháp, bà Từ Cung ở đây cho đến năm 1955 cung An Định bị chính quyền Ngô Đình Diệm tịch thu.
Từ 1975 - 2001, cung An Định được sử dụng làm nhà văn hóa lao động tỉnh. Có thể nói suốt gần 60 năm, tòa lâu đài này không được trùng tu bảo dưỡng gì nên đã xuống cấp nghiêm trọng, sáu bức tranh tường cũng bị sứt mẻ, phai nhạt sắc màu. Năm 2001, cung An Định được trùng tu nhân tổ chức lễ hội Festival Huế 2002.
Năm 2003, Đại sứ quán Cộng hòa liên bang Đức đã tài trợ 17.000 euro để phục chế sáu bức tranh tường cổ quí hiếm ở cung An Định. Năm chuyên gia phục chế di tích người Đức, bằng phương tiện kỹ thuật hiện đại đã nghiên cứu, phân tích và phục chế trong suốt ba tháng trời, nhờ đó các bức tranh mới hiện lên sinh động như hiện nay (nhưng liệu có đúng như nguyên tác?).
Tuy nhiên, chung quanh sáu bức tranh này đến bây giờ còn có hai câu hỏi chưa ai giải thích thỏa đáng. Thứ nhất, bức tranh thứ sáu vẽ phủ đệ hay khu lăng mộ nào? Thứ hai, ai là tác giả của sáu bức tranh này? Về câu hỏi thứ nhất, theo ông Phùng Phu, giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế, do cung An Định được vua Khải Định xây dựng khi mới lên ngôi, lúc đó ông chưa xây lăng cho mình nên tranh thứ sáu không thể vẽ lăng Khải Định mà có thể vẽ một phủ đệ nào đó có tầm quan trọng đặc biệt với triều đình và bản thân Bửu Đảo (?).
Còn tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn, giám đốc Bảo tàng Cổ vật Huế, cho rằng có thể bức tranh đó vẽ lăng Khải Định khi đang ở dạng phác thảo trên bản vẽ. Theo ông Sơn, lúc khánh thành cung An Định, vua Khải Định 33 tuổi, đã bắt đầu cho thiết kế lăng. Sở dĩ bức họa không giống với lăng Khải Định hiện nay vì sau chuyến đi Pháp về, Khải Định đã cho thay đổi thiết kế lăng theo kiểu phương Tây, đồ sộ hơn nên không còn giống với bức tranh đã vẽ.
Câu hỏi sau càng khó lý giải hơn. Theo các tác giả sách Mỹ thuật thời Nguyễn trên đất Huế (Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, 1992), những tác phẩm này là của họa sĩ Lê Quang Duyệt. Còn sách Mỹ thuật Huế (Viện Mỹ thuật và Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế xuất bản, 1992) lại cho rằng đây là tranh của các họa sĩ VN đương thời (thế kỷ 20) như Lê Duy Hiến, Tôn Thất Sa... Do trên tranh không có chữ ký họa sĩ, thật khó biết căn cứ vào đâu để xác định tác giả.
Chỉ đến khi trùng tu sáu bức tranh, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ở góc một trong sáu bức tranh có chữ ký tên Nguyễn Văn Ngoan (hay Ngoãn?). KTS Phùng Phu cho biết nếu đúng là họa sĩ Nguyễn Văn Ngoãn thì đây là một trong những họa sĩ đã tốt nghiệp Trường cao


Click the image to open in full size.


đẳng Mỹ thuật Đông Dương ở Hà Nội trong những khóa đầu tiên. Nhưng vấn đề rắc rối ở chỗ họa sĩ Nguyễn Văn Ngoãn tốt nghiệp năm 1934, khi cung An Định đã được xây xong từ lâu và Khải Định cũng đã qua đời; và ông Ngoãn sẽ không bao giờ ký tên của mình vào bản vẽ của người khác nếu được mời sửa chữa hay vẽ lại. Còn nếu như những bức tranh này được vẽ sau năm 1934, do ý tưởng của Bảo Đại chẳng hạn, thì bức tranh thứ sáu phải được vẽ đúng như nó chứ! Lại có ý kiến rằng cũng có thể họa sĩ Nguyễn Văn Ngoãn khi chưa đi học Trường Mỹ thuật Đông Dương đã được triều đình Huế trưng dụng... 
Hai câu hỏi trên nhất định sẽ được làm sáng tỏ. Đây là công việc của các nhà nghiên cứu văn hóa Huế cũng như các nhà nghiên cứu mỹ thuật.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Ngôi biệt thự có số nhà 79B, nay đổi số mới là 147, ở đường Phan Đình Phùng – thành phố Huế, hướng mặt tiền ra sông Lợi Nông (sông An Cựu) từ vài chục năm nay người Huế quen gọi là nhà Đức Từ Cung.


Click the image to open in full size.
Nhà lưu niệm Hoàng Thái hậu Từ Cung


Ngôi nhà được xây cất dưới thời thuộc Pháp, đã qua vài lần đổi chủ. Chủ nhân cuối cùng là Đoan Huy Hoàng Thái Hậu.
Bà Từ Cung, nhũ danh là Hoàng Thị Cúc, con ông Hoàng Văn Tích, nguyên quán ở làng Mỹ Lợi, huyện Phú Lộc, tỉnh TT-Huế. Ông Hoàng Văn Tích được ban chức Thái Thường Tự Khanh, tước Nghi Quốc Công.
Phủ thờ họ Hoàng, họ ngoại vua Bảo Đại, được lập ở đường Nguyễn Du, phường Phú Cát. Dưới thời Duy Tân (1907-1916) bà là phủ thiếp của Phụng Hoá Công Bửu Đảo. Bà sinh hạ công tử Vĩnh Thụy vào ngày 20/10/1913.
Năm 1916, khi Phụng Hoá Công lên ngôi, lấy niên hiệu là Khải Định, địa vị của bà Hoàng Thị Cúc trở nên quan trọng trong Hoàng gia.
Tháng 3 năm Khải Định thứ 2 bà được phong tước Tam giai Huệ Nhân, tháng 10 năm sau được phong Nhị giai Huệ Phi, tháng 2 năm Khải Định thứ 8 (1923) được phong Nhất giai Hậu Phi.
Năm 1925, khi Hoàng tử Vĩnh Thụy nối ngôi vua cha địa vị của bà càng quan trọng hơn. Tháng 2 năm Bảo Đại thứ 8 (1933) bà được triều đình tấn phong Đoan Huy Hoàng Thái Hậu.
Từ đó bà được tôn xưng là Từ Cung. Vào ngày sinh nhật hàng năm của bà triều đình tổ chức lễ mừng rất trọng thể, gọi là Lễ Từ Khương.
Tháng 8-1945, một ngày sau lễ thoái vị của vua Bảo Đại, gia đình nhà vua ra khỏi Hoàng cung, chuyển về ở tại Cung An Định. Đây là Tiềm để của vua Khải Định và vua Bảo Đại.
Công trình này nguyên có tên là Phủ Phụng Hoá, do vua Đồng Khánh xây dựng dành cho Hoàng tử trưởng Nguyễn Phúc Bửu Đảo. Khi lên ngôi, vua Khải Định cho cải tạo Phủ Phụng Hoá thành một lâu đài tráng lệ, dành tặng cho Hoàng tử Vĩnh Thụy.
Vĩnh Thụy đã ở tại đây cho đến năm 1922 thì qua Pháp học. Khi tại vị, cả vua Khải Định và vua Bảo Đại đều ở trong Điện Kiến Trung.
Khi cựu hoàng Bảo Đại ra Hà Nội làm cố vấn cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hoàng Thái hậu Từ Cung và Hoàng hậu Nam Phương cùng các hoàng nam, hoàng nữ vẫn ở tại Cung An Định.
Những năm 1949 - 1954, khi Bảo Đại trở về làm Quốc trưởng bà Từ Cung trở lại Hoàng cung, ở tại Cung Diên Thọ. Năm 1954, khi Bảo Đại qua Pháp lưu vong bà lại phải ra khỏi Hoàng thành về sống ở Cung An Định.
Năm 1955, khi Quốc trưởng Bảo Đại bị lật đổ, ông Ngô Đình Diệm lên làm Thủ tướng thì chính quyền (miền Nam Việt Nam) không cho phép bà Từ Cung ở lại trong Cung An Định. Trong tình cảnh này bà đã mua lại ngôi nhà của bà Ân Phi.
Ngôi nhà lầu của bà Ân Phi nguyên chỉ có 2 gian. Bà Từ Cung cho xây thêm 1 gian ở bên phải, cho cải tạo một số bộ phận kiến trúc và trang trí nội thất theo lối hiện đại.
Bà đã cho mang khá nhiều đồ tự khí và bảo vật từ Cung An Định về trang hoàng trong ngôi nhà này. Nhiều hiện vật trong ngôi nhà hiện vẫn thấy chạm khắc 2 chữ An Định (chữ Hán).
Tầng trệt, gian giữa, phần trước thờ bà Từ Cung. Gian bên trái là nơi bà Từ Cung ăn, ở. Gian bên phải dành để tiếp khách quan trọng. Trong phòng khách bà cho treo nhiều hình ảnh của những thành viên trong gia đình, từ vua Khải Định đến các cháu nội của bà.
Trong một cái tủ ở giữa phòng khách hiện còn trưng một bức ảnh có giá trị lịch sử, ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp chung với cố vấn Vĩnh Thụy tại Phủ Chủ tịch (Hà Nội) năm 1945.
Tầng trên của ngôi nhà dùng để thờ phụng. Gian giữa thờ các vua, chúa nhà Nguyễn. Gian bên phải thờ phật, thánh, thờ bà Nghi Quốc Công (mẹ bà Từ Cung); và thờ 2 bà Thánh Cung, Tiên Cung - Bà Thánh Cung là mẹ đích, bà Tiên Cung là mẹ đẻ của vua Khải Định.
Gian bên trái sắp đặt một số tượng của vua Bảo Đại và ảnh Hoàng hậu Nam Phương. Sau khi cựu Hoàng Bảo Đại mất, phần trước của gian này được dùng để thờ ông.
Bà Từ Cung đã ở trong ngôi biệt thự tư hữu này từ năm 1955 cho đến ngày qua đời - ngày 10/11/1980.
Từ khi trở thành Hoàng hậu cho đến những ngày cuối đời bà Từ Cung đã đóng góp rất nhiều công sức và tiền của trong việc thờ phụng, kỵ giỗ các vị vua, chúa nhà Nguyễn; trong việc tu bổ một số miếu, điện; và cả trong việc gìn giữ di sản văn hoá cung đình Huế.
Suốt một đời người bà chưa bao giờ bỏ Huế mà đi cho dù chính sự đổi thay, chiến tranh ác liệt. Bà là người nhân hậu, bất luận trong hoàn cảnh nào cũng làm hết bổn phận của mình đối với các bậc tiên vương và Hoàng tộc.
Đạo đức và nhân cách của bà đã làm cho mọi người từ trong cung đến ngoài nội nể trọng. Kể từ khi Tôn Nhơn Phủ bị cháy (vào năm 1975), tại ngôi biệt thự này bà Từ Cung đẫ tổ chức những cuộc lễ kỵ giỗ các vua Nguyễn, chúa Nguyễn và một số nhân vật đặc biệt trong Hoàng tộc Nguyễn.
Vì thế, trong một thời gian dài, nhiều người đã coi Nhà Đức Từ như là Từ đường của Nguyễn Phước tộc, là hậu thân của Tôn Nhơn Phủ.
Về giá trị lịch sử, ngôi nhà này là nơi ở của bà Hoàng Thái Hậu cuối cùng của triều Nguyễn, triều đại cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam. Ngôi nhà chứng kiến sự “lưu lạc” của một bà Hoàng Thái Hậu trong suốt 35 năm thăng trầm của lịch sử dân tộc.
Bên trong ngôi nhà hiện nay vẫn còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị lịch sử và nghệ thuật. Trong đó có nhiều đồ ngự dụng, cổ vật còn ghi rõ niên đại thời nhà Thanh, thời vua Thiệu Trị, thời vua Tự Đức. Vì thế, có thể xem ngôi biệt thự này là một bảo tàng mi ni, một điểm tham quan du lịch nhân văn.
Được biết, chủ nhân đầu tiên của ngôi nhà này cũng là một vị quan chức quê ở Nghệ An. Ông tậu ngôi nhà hồi đầu thế kỷ XX, khi vào Huế làm việc. Chủ nhân tiếp theo là ông Hồ Đắc Điềm.
Là con quan Thượng thư, ông Điềm có điều kiện du học ở Pháp và đã đậu Tiến sĩ Luật. Về nước ông được giữ chức Tham tri Bộ Hình, sau chuyển qua ngành Hành chính của Chính phủ Bảo hộ Pháp tại Đông Dương. Ông đã kinh qua nhiều chức vụ quan trọng.
Từ năm 1941 ông làm Tổng đốc tỉnh Hà Đông. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 ông ở lại miền Bắc, làm Phó Chủ tịch UBHC thành phố Hà Nội, sau đó chuyển sang làm Phó Chủ tịch UBMTTQ thành phố, ủy viên trung ương UBMTTQ Việt Nam.
Ông mất hồi thập niên 80. Sinh thời, vì thương mến người chị ruột, ông Hồ Đắc Điềm đã mua ngôi nhà này cho bà Ân Phi - người vợ chính thức của vua Khải Định do triều đình cưới hỏi - làm nơi ăn ở.
Năm 1975, khi Huế vừa giải phóng ông đã vào công tác kết hợp thăm gia đình. Ông đã tìm bà Ân Phi và quan tâm đến việc sắp xếp chỗ ở cũng như việc phụng dưỡng bà.
Về kiến trúc, đây là một công trình mang dấu ấn của 2 nền văn hoá Đông phương và Tây phương. Nội thất và sân vườn ngôi biệt thự thuộc kiến trúc nhà - vườn Huế. Kết cấu công trình có bê tông cốt thép đánh dấu giai đoạn giao thời của kiến trúc nhà ở Việt Nam..
Bà Từ Cung chỉ có một người con duy nhất. Khi bà qua đời cựu Hoàng Bảo Đại vẫn đang sống lưu vong ở Pháp.
Ở Huế không có ai đủ tư cách thừa kế gia sản cho nên ngôi nhà của bà và các hiện vật bên trong được giao cho Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế quản lý để bảo tồn và phát huy tác dụng.
Trong hồ sơ tiếp quản di tích ngôi nhà có tên là Nhà lưu niệm bà Hoàng Thái Hậu Từ Cung, thường được gọi tắt là Nhà lưu niệm bà Từ Cung.

Hoàng đế Việt Nam


Click the image to open in full size. 
Chân dung cựu hoàng Bảo Đại 
Vua nhà Nguyễn
Trị vì6 tháng 11 năm 1925 – 30 tháng 8 năm 1945


Đăng quang8 tháng 1 năm 1926


Tiền nhiệm Khải Định


Kế nhiệmKhông có.


Chế độ phong kiến sụp đổ


Hoàng hậuNam Phương Hoàng hậu


Hậu duệThái tử Bảo Long


Công chúa Phương Mai
Công chúa Phương Liên
Công chúa Phương Dung
Hoàng tử Bảo Thắng


Tên húyNguyễn Phúc Vĩnh ThụyNiên hiệuBảo Đại (1926 - 1945)Triều đạiNhà NguyễnHoàng gia ca Đăng đàn cungThân phụ Khải ĐịnhThân mẫuTừ Cung Hoàng Thị CúcSinh22 tháng 10 năm 1913 
Huế, Việt Nam Mất 31 tháng 7 năm 1997
Paris, PhápAn tángNghĩa trang Passy
  1. Bảo Đại 22 tháng 10, 1913 – 31 tháng 7, 1997) là vị hoàng đế thứ mười ba và cuối cùng của triều Nguyễn, cũng là vị vua cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam. Đúng ra "Bảo Đại" chỉ là niên hiệu nhà vua nhưng nay thường dùng như là tên nhà vua khi tại vị và sau khi thoái vị dưới danh nghĩa cựu hoàng.
  2. Thuở nhỏ
  3. Ông hoàng Bảo Đại tên húy là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy , còn có tên Nguyễn Phúc Thiển sinh ngày 22 tháng 10 năm 1913 (ngày 23 tháng 9 năm Quý Sửu) tại Huế, là con của vua Khải Định và bà Từ Cung Hoàng Thị Cúc. Về thân thế của Bảo Đại vẫn còn nhiều nghi ngờ, vì vua Khải Định bị mang tiếng là bất lực và không thích gần đàn bà
  4. Ngày 28 tháng 3 năm 1922, Vĩnh Thuỵ được xác lập Đông cung Hoàng Thái tử. Ngày 15 tháng 6 năm 1922, Vĩnh Thuỵ cùng vua cha Khải Định sang Phá để thưởng ngoạn cuộc triển lãm hàng hóa tại Marseille, Pháp. Tháng 6 năm 1922, Vĩnh Thụy được vợ chồng cựu Khâm sứ Trung kỳ Jean François Eugène Charles nhận làm con nuôi và cho ăn học tại học ở trường Lycée Condorcet rồi sau ở trường Sciences Po (École libre des sciences politiques), Paris.
Tháng 2 năm 1924, Vĩnh Thụy về nước để dự Lễ Tứ Tuần Đại Khánh vua Khải Định, đến tháng 11 năm 1924 trở lại nước Pháp để tiếp tục học.
  1. Vua Khải Định mất ngày 6 tháng 11 năm 1925, Vĩnh Thụy về nước thọ tang vua cha và ngày 8 tháng 1 năm 1926, Vĩnh Thụy được tôn lên kế vị làm vua lấy niên hiệu Bảo Đại. Tháng 3 cùng năm, Bảo Đại trở lại Pháp để tiếp tục học tập. Từ niên khóa 1930, Bảo Đại theo học trường Khoa học Chính trị (Sciences Po). Đến tháng 9 năm 1932, Bảo Đại hồi loan về nước.
  2. Lên ngôi
  3. Tháng 9 năm 1932, Bảo Đại hồi loan trở về nước, chính thức làm vua. Bảo Đại đã cải cách công việc trong triều như sắp xếp lại việc nội chính, hành chính...Bảo Đại đã cho bỏ một số tập tục mà các tiên vương đã bày ra như thần dân không phải quỳ lạy mà có thể ngước nhìn long nhan nhà vua khi nhà vua tới, mỗi khi vào chầu các quan Tây không phải chắp tay xá lạy mà chỉ bắt tay vua, các quan ta cũng không phải quỳ lạy... Bảo Đại đã cho các thượng thư già yếu hoặc kém năng lực như Nguyễn Hữu Bài về hưu, sắc phong thêm 4 thượng thư mới xuất thân từ giới học giả và hành chính là Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Hồ Đắc Khải và Ngô Đình Diệm. Ông thành lập Viện Dân biểu để trình bày nguyện vọng lên nhà vua và quan chức bảo hộ Pháp và cho phép Hội đồng tư vấn Bắc Kỳ được thay mặt Nam triều trong việc hợp tác với chính quyền bảo hộ, tháng 12 năm 1933, Bảo Đại ngự du Bắc hà thăm dân chúng.
  4. Ngày 20 tháng 3 năm 1934, Bảo Đại làm đám cưới với Marie Thérèse Nguyễn Hữu Thi Lan và tấn phong bà làm Nam Phương Hoàng hậu. Đây là một việc làm phá lệ bởi vì kể từ khi vua Gia Long khai sáng triều Nguyễn cho đến vua Khải Định, các vợ vua chỉ được phong tước Vương phi, sau khi mất mới được truy phong Hoàng hậu. Ông là nhà vua đầu tiên thực hiện bỏ chế độ cung tần, thứ phi. Cuộc hôn nhân này cũng gặp phải rất nhiều phản đối vì Nguyễn Hữu Thị Lan là người Công giáo và mang quốc tịch Pháp.
  5. Sau khi Nhật đảo chính Pháp và tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam, ngày 11 tháng 3 năm 1945, Bảo Đại ra đạo dụ "Tuyên cáo Việt Nam độc lập", tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam.
  6. Ngày 7 tháng 4 năm 1945, Bảo Đại ký đạo dụ số 5 chuẩn y thành phần nội các Trần Trọng Kim và ngày 12 tháng 5 giải thể Viện Dân biểu Trung Kỳ. Tháng 6 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam.
Thoái vị

  1. Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 25 tháng 8, Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh buộc Bảo Đại phải thoái vị. Bảo Đại thoái vị trong một buổi lễ long trọng ở Ngo Môn, Huế vào chiều 30 tháng 8, trao quốc ấn Hoàng đế Chi Bửu và thanh kiếm bạc nạm ngọc cho đại diện của chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là ông Trần Huy Liệu. Ông trở thành "công dân Vĩnh Thụy". Trong dịp này, ông có câu nói nổi tiếng "Thà làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ".
  2. Tháng 9 năm 1945, ông được Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà mời ra Hà Nội nhận chức "Cố vấn tối cao Chính phủ Lâm thời Việt Nam", ông là một trong 7 thành viên của Ủy ban dự thảo Hiến pháp do Hồ Chí Minh đứng đầu.
  3. Ngày 6 tháng 1 năm 1946, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
  4. Ngày 16 tháng 3 năm 1946, ông tham gia phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang Trùng Khánh thăm viếng Trung Hoa, nhưng ông không trở về nước, mà về Côn Minh rồi Hương Cảng. Tại Côn Minh, ông đã tiếp xúc với nhiều giới chính trị, trong đó có người Mỹ. Đại Tướng Marshall đại diện Hoa Kỳ, đã đem bản giao ước với Bảo Đại về trình Tổng thống Harry S. Truman. Bảo Đại bèn viết thư về nước xin từ chức "Cố vấn tối cao" trong chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Làm Quốc trưởng


Năm 1947, cựu trùm mật thám Pháp ở Đông Dương là Cousseau đã tiếp xúc với Bảo Đại tại Hồng Kông, ngỏ ý mời ông về nước nắm quyền, hình thành nên "giải pháp Bảo Đại" để chống lại cuộc chiến giành độc lập của phong trào Việt Minh. Ngày 24 tháng 4 năm 1948, thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân và Trần Văn Hữu cũng bay tới Hồng Kông để gặp Bảo Đại xin thành lập Chính phủ Lâm thời cho Việt Nam, ngày 15 tháng 5, Bảo Đại gửi thông điệp cho tướng Xuân, tán thành sự thành lập Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam do tướng Xuân điều khiển "để giải quyết vấn đề Việt Nam đối với Pháp và dư luận Quốc tế".

Ngày 5 tháng 6 năm 1948, Bảo Đại đã gặp gỡ Cao ủy Pháp Bollaert ở vịnh Hạ Long, trên chiến hạm Duguay Trouin, bản tuyên ngôn Việt - Pháp được công bố, theo đó nước Pháp thừa nhận nền độc lập và thống nhất của Việt Nam.

Ngày 8 tháng 3 năm 1949, Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysée, thành lập một chính quyền Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, gọi là Quốc gia Việt Nam, đứng đầu là Bảo Đại. Bảo Đại yêu cầu Pháp phải trao trả Nam Kỳ cho Việt Nam và Pháp đã chấp nhận yêu cầu này

Ngày 24 tháng 4 năm 1949, Bảo Đại về nước. Hai tháng sau, vào ngày 14 tháng 6 Bảo Đại tuyên bố tạm cầm quyền cho đến khi tổ chức được tổng tuyển cử và tạm giữ danh hiệu Hoàng đế để có một địa vị quốc tế hợp pháp. Ngày 20 tháng 6 năm 1949, thủ tướng Nguyễn Văn Xuân đệ đơn từ chức, Chính phủ Lâm thời Nam phần tuyên bố giải tán. Ngày 21 tháng 6, thỏa ước Elyseé được công bố.

Ngày 1 tháng 7 năm 1949, Chính phủ Lâm thời của Quốc gia Việt Nam được thành lập theo sắc lệnh số 1-CP của thủ tướng, tấn phong Bảo Đại là Quốc trưởng, trung tướng Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng (Có tài liệu ghi Bảo Đại là Quốc trưởng kiêm Thủ tướng, Nguyễn Văn Xuân là phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng). Tháng 1 năm 1950, Bảo Đại chỉ định Nguyễn Phan Long làm Thủ tướng. Ngày 27 tháng 4 năm 1950, giải tán chính phủ Nguyễn Phan Long và ủy nhiệm Thủ hiến Trần Văn Hữu thành lập chính phủ mới. Chính phủ do Trần Văn Hữu làm Thủ tướng tồn tại đến ngày 6 tháng 6 năm 1952 thì phải cáo lui, nhường chỗ cho Nguyễn Văn Tâm lên làm thủ tướng cùng thành phần tổng, bộ trưởng đa số là người do Pháp đào tạo.

Ngày 20 tháng 11 năm 1953, hoàng thân Bửu Lộc từ Pháp về Sài Gòn lập chính phủ thay thế chính phủ Nguyễn Văn Tâm. Thời gian này, Quốc trưởng Bảo Đại sống và làm việc tại biệt điện ở Đà Lạt. Xung quanh nơi ở của Bảo Đại có cả một trung đoàn Ngự lâm quân bảo vệ và có cả một đoàn xe riêng gọi là "công xa biệt điện", lại có cả một đội máy bay riêng do các phi công người Pháp lái phục vụ.

Ngày 11 tháng 1 năm 1954, Chính phủ mới do Bửu Lộc thành lập trình diện Bảo Đại nhưng đến ngày 16 tháng 6 năm 1954, Bửu Lộc từ chức. Quốc trưởng Bảo Đại mời Ngô Đình Diệm về nước, ngày 6 tháng 7, Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ mới.

Sau Hiệp định Genève 1954, Pháp phải rút khỏi Đông Dương, chính quyền và quân đội Quốc gia Việt Nam tập kết ở miền Nam Việt Nam chờ tổng tuyển cử để thống nhất Việt Nam.

Ngô Đình Diệm tiến hành cải tổ chính phủ lần thứ nhất vào ngày 24 tháng 9 năm 1954 và lần thứ hai vào ngày 10 tháng 5 năm 1955.

Tháng 9 năm 1954, tướng Nguyễn Văn Hinh không chịu dưới quyền chỉ huy của Ngô Đình Diệm nên đánh điện sang Pháp nhờ Bảo Đại can thiệp. Bảo Đại điện về Sài Gòn triệu tập Diệm sang Cannes gặp Bảo Đại để bàn lại việc sắp xếp nhân sự nhưng Diệm không đi. Bảo Đại quyết định điện về Sài Gòn cách chức thủ tướng của Ngô Đình Diệm.

Tuy nhiên, ngày 4 tháng 10 năm 1955, Ủy ban trưng cầu dân ý thành lập đưa ý kiến đòi truất phế Quốc trưởng Bảo Đại và đưa Thủ tướng Ngô Đình Diệm lên làm Quốc trưởng. Đến ngày 26 tháng 10 năm 1955, Ngô Đình Diệm được suy tôn lên chức vị Quốc trưởng, và với 5.721.735 phiếu truất, Quốc trưởng Bảo Đại bị phế truất và bắt đầu cuộc sống lưu vong tại Pháp cho đến ngày tạ thế.

Cuộc sống lưu vong

Ông sống tại Cannes, sau đó chuyển đến vùng Alsace. Bảo Đại giao du với Jean de Beaumont, cựu nghị sĩ Nam Kỳ, một tay săn bắn có hạng. Bị cơ quan thuế để mắt tới, không còn tiền tài trợ của chính phủ Pháp, ông phải bán dần tài sản của mình. Năm 1963, Nam Phương Hoàng hậu qua đời ở Chabrignac.

Năm 1982, khi đã tiêu pha hết cả tài sản, Bảo Đại kết hôn với Monique Baudot, một phụ nữ Pháp kém Bảo Đại hơn 30 tuổi (Monique Baudot sinh năm 1946). Bảo Đại nhập đạo Công giáo lấy tên thánh là Jean-Robert.

Năm 1982, nhân khai trương Hội Hoàng tộc ở hải ngoại, Bảo Đại lần đầu tiên sang thăm Mỹ với tư cách cá nhân. Trong chuyến đi này ông đã nhận tên cha để làm lại giấy khai sinh cho những người con ngoại hôn trước đây không ghi tên cha. Tại thị trấn Sacramento, ông được tặng chiếc chìa khóa vàng tượng trưng cho thị trấn này. Ông cũng được bà thị trưởng thành phố Westminster, California tặng danh hiệu "công dân danh dự" của thành phố.

Tang lễ

Cựu hoàng Bảo Đại là vị vua thọ nhất nhà Nguyễn. Ông qua đời ngày 31 tháng 7 năm 1997 tại Quân y viện Val-de-Grâce, hưởng thọ 84 tuổi. Ông cũng là một phế đế sống thọ nhất trên thế giới thời hiện đại. Trước đó ông có nhận lời về tham dự Hội nghị thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ (La Francophonie) được tổ chức tại Hà Nội vào 1997.

Đám tang Bảo Đại được điện Elysée đứng ra lo liệu đầy đủ và trang trọng. Về phía gia đình, ngoài bà quả phụ Vĩnh Thụy Baudot có hoàng tử Bảo Long và các công chúa cùng đến tiễn đưa thân phụ, ngoài ra còn có bà Didelot (chị ruột của bà Nam Phương), tuy đã 90 tuổi nhưng cũng tới dự. Linh cữu Bảo Đại được đưa từ Quân y viện Val de Grace tới thánh đường Saint Pierre de Chaillot để làm lễ cầu hồn. Ông được an táng tại nghĩa trang Passy, quận 16, Paris, khá gần tháp Eiffel. Đám tang Bảo Đại được nhà nước Pháp cử một tiểu đội lính lê dương quân phục trắng, gù đỏ trên vai, bồng súng, một sĩ quan cầm quốc kỳ Pháp đi đầu và tiểu đội lính cầm súng đi hai bên linh cữu.

Chính phủ Pháp có cử đại diện đến dự lễ, chia buồn và tiễn đưa. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gửi điện chia buồn đến tang quyến và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã gửi vòng hoa viếng.

Trả lời BBC về sự kiện này, bà Monique nói "Ngày hôm nay tôi rất đau buồn. Dĩ nhiên rồi, trước hết và trên hết là vì chồng tôi vừa qua đời. Nhưng hôm nay trang sử của triều Nguyễn Việt Nam cũng được chấm dứt. Tôi cầu nguyện cho chồng tôi".


  1. Những người vợ và tình nhân của Vua Bảo Đại
  2. Theo tác giả Lý Nhân Phan Thứ Lang, trong cuốn "Giai thoại và sự thật về Bảo Đại, vua cuối cùng Triều Nguyễn", Nhà xuất bản văn nghệ, 2006, thì những người vợ và tình nhân của Bảo Đại gồm:
  3. Nam Phương Hoàng hậu, quê Gò Công, Tiền Giang, có 5 người con
  4. Bùi Mộng Điệp, quê Bắc Ninh, không hôn thú, có 3 người con
  5. Lý Lệ Hà, quê Thái Bình, vũ nữ, không hôn thú, không có con
  6. Hoàng Tiểu Lan (Jenny Woong), vũ nữ Trung Hoa lai Pháp, không hôn thú, có 1 con gái
  7. Lê Thị Phi Ánh ở Huế, không hôn thú, có 2 người con
  8. Vicky (Pháp), không hôn thú, có 1 con gái
  9. Clément(?), vũ nữ và buôn lậu ở xóm Cigalle (Pháp), không hôn thú
  10. Monique Marie Eugene Baudot (Pháp), có hôn thú, không có con
  11. Những người con của Bảo Đại
Vua Bảo Đại có 8 người vợ, tình nhân và có 13 người con.





Với Nam Phương Hoàng hậu


Thái tử Nguyễn Phúc Bảo Long, sinh ngày 4 tháng 1 năm 1936, mất ngày 28 tháng 7 năm 2007


Công chúa Nguyễn Phúc Phương Mai,sinh ngày 1 tháng 8 năm 1937 tại Đà Lạt


Công chúa Nguyễn Phúc Phương Liên, sinh ngày 3 tháng 11 năm 1939

Công chúa Nguyễn Phúc Phương Dung, sinh ngày 5 tháng 2 năm 1942

Hoàng tử Nguyễn Phúc Bảo Thắng, sinh ngày 9 tháng 12 năm 1










Với bà Mộng Điệp


Nguyễn Phúc Phương Thảo, sinh năm 1946


Nguyễn Phúc Bảo Hoàng, sinh năm 1954




Nguyễn Phúc Bảo Sơn, sinh năm 1957


Với bà Hoàng Tiểu Lan


Nguyễn Phúc Phương An


Nguyễn Phúc Hoàng My






Với bà Phi Ánh


Nguyễn Phúc Phương Minh


Nguyễn Phúc Bảo Ân





Với bà Vicky


Nguyễn Phúc Phương Từ


Bảo Đại còn có một người con do bà Từ Cung nuôi, nhưng không rõ là con bà nào do ông không tiết lộ.







Câu nói nổi tiếng


Làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ.


Xin cho tôi được sống và chết trong bình yên.


Click the image to open in full size.



Click the image to open in full size.


Click the image to open in full size.


Bảo Đại và đoàn hộ giá ngày phong vương




Click the image to open in full size.


Bảo Đại trước ống kính máy ảnh

Click the image to open in full size.


Người Pháp làm lễ trao ấn kiếm cho Quốc trưởng Bảo Đại (3 tháng 3 năm 1952)

Click the image to open in full size.


Lầu Tịnh Minh, Đại Nội Huế. Năm 1950 là tư thất của quốc trưởng Bảo Đại

Click the image to open in full size.


Bảo Đại tại Paris


Click the image to open in full size.




Nam Phương Hoàng Hậu



Click the image to open in full size.

Mộ cựu hoàng Bảo Đại tại Nghĩa trang Passy Paris.


Click the image to open in full size.


CÂY PHẢ HỆ CỦA VƯƠNG TRIỀU NHÀ NGUYỄN


Click the image to open in full size.


Ghi chú : Những số tương thích chỉ thứ tự của các vị hoàng đế đã trị vì.

Bài đọc thêm về ngôi mộ của Vua Bảo Đại

Click the image to open in full size. Thật bất ngờ, mãi đến trước lúc về Việt Nam tôi mới biết rằng cách chưa đầy 1km từ chỗ tôi trọ học mấy năm nay là nơi an nghỉ của vị hoàng đế cuối cùng Việt Nam - Bảo Đại. Từ tháp Eiffel, đi bộ khoảng chừng 10 phút là đến nghĩa trang Passy, nằm ngay bên cạnh quảng trường Trocadero, nơi du khách thường đến để ngắm và chụp ảnh tháp Eiffel hùng vĩ. Không khí se lạnh và trong lành, hoa cúc muôn màu khoe sắc được trồng khắp nơi trong nghĩa trang.

Các ngôi mộ ở đây thật sạch sẽ, tinh tươm với đủ mọi hình thái kiến trúc. Quả thật, qua hơn 10 nghĩa trang trải khắp nước Pháp mà tôi đã từng viếng thăm, có thể cảm nhận rằng nghĩa trang ở Pháp có cái sắc thái tươi tắn, sinh động, ngược hẳn với vẻ u buồn, đôi chút rùng rợn của các nghĩa trang Việt Nam.

Ngay cửa vào tôi thấy một bản đồ nghĩa trang với tên tuổi những người nổi tiếng được chôn tại đây và chỉ dẫn khu vực mộ, số hiệu của ngôi mộ... Trong danh sách những người nổi tiếng này, tôi đã tìm thấy ngay tên “Bảo Đại - hoàng đế Việt Nam”. Tạt vào phòng quản lý nghĩa trang, tôi xin một bản đồ giấy cầm tay để tiện cho việc tìm kiếm.

Theo hướng dẫn trên bản đồ, tôi nhanh chóng tìm thấy khu vực mộ của Bảo Đại. Thế nhưng, quành đi quành lại cả chục vòng, tôi vẫn không nhìn thấy mộ của vị cựu hoàng nước Nam. Không một bia mộ nào có đề tên ông. Thật lạ lùng!

Tôi quay trở lại phòng quản lý. Vừa nghe tôi hỏi, người giám đốc nghĩa trang đã xông xáo dẫn đường. Đến khu vực mà tôi đã tìm kiếm lúc nãy, ông đưa tay chỉ vào một ngôi mộ nằm thấp tè sát mặt đất. Thật không thể tin nổi vào mắt mình! Phần đất khiêm tốn, phủ bên trên bởi hai miếng bêtông như hai tấm dale. Không một tấm bia, không một dòng đề tặng. Một vài chậu cây xơ xác...

Tôi hỏi ông giám đốc ấy vì sao ngôi mộ lại quá đỗi hoang lạnh. Phải chăng vì không ai cung cấp tiền để tu bổ, chỉnh trang? Ông khẳng định vấn đề ở đây không phải là tiền. Phần đất nơi chôn ông Bảo Đại đã do người vợ Pháp của ông mua quyền sở hữu vĩnh viễn. Và chính bà đã quyết định chôn cất ông như thế.

Đã nhiều người, trong đó có ông, bỏ tiền túi ra để dựng bia mộ cho ông Bảo Đại. Nhưng mỗi lần như thế bà vợ Bảo Đại đều phản đối, cho người gỡ đi. Chính ông cũng không biết lý do tại sao lại như vậy. Vị giám đốc ấy còn kể rằng sự ngạc nhiên mà tôi gặp khi nhìn thấy mộ Bảo Đại cũng là chuyện bình thường. Đã rất nhiều người VN đến đây thăm mộ. Lần nào ông giám đốc cũng phải dẫn họ đi tìm. Và lần nào ông cũng chứng kiến họ ra về, thái độ rất thất vọng.

Được biết có lần hội Việt kiều đã tổ chức quyên góp mỗi người 1 euro để tu bổ mộ Bảo Đại. Tiền không thiếu, thế nhưng khi quyên xong công việc vẫn không thực hiện được vì gặp sự phản đối của người vợ góa của Bảo Đại. Ngày đám tang của ông có rất nhiều người Việt Nam đến dự. Các cô con gái lai Tây của ông cũng có mặt, nhưng như nhiều người Việt ở đây mô tả “họ đã quá lai căng, không chút vấn vương của tâm hồn người Việt nơi họ”.

Thật bất ngờ! Giữa quần thể các ngôi mộ tinh tươm, đẹp đẽ của những thường dân Pháp, ngôi mộ của Bảo Đại nằm nép mình thật cô đơn và lạc lõng...

Bí mật cuộc đời Nam Phương Hoàng hậu
Click the image to open in full size.
    • Cách mạng Tháng Tám thành công, vua Bảo Đại thoái vị, hoàng hậu Nam Phương sang Pháp sinh sống. Tuy giàu có, nhưng bà sống thiếu hạnh phúc và chết trong cô đơn nơi đất khách năm 1963, khi mới 49 tuổi.
    • Vĩnh Thụy khi mới 8 tuổi đã trở thành Đông cung Hoàng thái tử. Sau 11 năm du học bên Pháp, Vĩnh Thụy trở lại quê nhà lên ngôi Hoàng đế Bảo Đại, ở tuổi 19. Trên chuyến tàu này, có một nữ khách người Việt, cô Mariette Jeanne Nguyễn Hữu Thị Lan xinh đẹp, năm ấy vừa tròn 18 tuổi. Cô sinh năm 1914 tại Sài Gòn, con ông Nguyễn Hữu Hào và bà Lê Thị Bính, cháu ngoại ông huyện Sĩ ở Nam Kỳ, một trong bốn người giàu nhất nước Việt Nam những năm đầu của thế kỷ 20, một gia đình theo đạo Thiên Chúa, quốc tịch Pháp. Năm 14 tuổi, cô được gia đình gửi sang Pháp, học trường dòng Couvent des Oiseaux ở Paris, cũng trở về nước chuyến này khi vừa học xong. Và lần đầu cô trông thấy Vĩnh Thụy ở phòng ăn trên tàu.
  • Click the image to open in full size.
Click the image to open in full size. 

Nam Phương Hoàng hậu 

Click the image to open in full size.

    1. Năm sau, dưới sự đạo diễn của người Pháp, Vĩnh Thụy và cô Lan hội ngộ. Họ bố trí cho Vĩnh Thụy và Toàn quyền Pasquier đến nghỉ mát ở núi Lâm Viên Đà Lạt. Darles, đốc lý, được giao nhiệm vụ tổ chức một buổi tiệc trà với lý do họp mặt giữa người Pháp và một số thân hào nổi tiếng ở miền Nam đang làm ăn tại cao nguyên này. Hai mẹ con cô Lan và anh ruột bà Nguyễn Hữu Hào, ông Denis Lê Phát An, từ Sài Gòn lên đây nghỉ mát từ vài hôm trước, cũng được gửi thiếp mời tới dự tiệc trà. Nể lời cậu, cô Lan đi dự nhưng không trang điểm, chỉ mặc áo dài bằng lụa đen mua bên Pháp. Trong buổi tiệc ấy, khi ông Darles đưa ông cậu và cô cháu gái đến giới thiệu, Hoàng đế đã bị chinh phục, nhìn cô không chớp mắt.
    2. Sau bữa tiệc, Vĩnh Thụy trở lại Huế bẩm với bà Hoàng Thái hậu Từ cung Hoàng Thị Cúc về chuyện gặp cô Lan. Bà Cúc tỏ ra lo lắng, nét mặt u buồn, bởi cô Lan đi đạo, lớn lên ở châu Âu, không phải sống trong khuôn phép lễ giáo Việt Nam. Không phải chỉ trong hoàng tộc và đình thần, cả trong dân chúng đều lo lắng, bàn tán xôn xao. Vĩnh Thụy vẫn bất chấp, hôn lễ được cử hành vào ngày 20/3/1934, trước sự hiện diện của đình thần và đại diện nước Pháp, tại điện Cần Chánh. Triều đình đứng thành hàng dọc theo tấm thảm hai màu vàng, đỏ dành riêng cho hoàng đế. Lần đầu tiên trong lịch sử nhà Nguyễn, có một phụ nữ xuất hiện giữa triều đình.
Click the image to open in full size.


Hoàng hậu trong trang phục
    • Bà Nam Phương, tên trị vì do Bảo Đại đặt, có nghĩa "Người con gái phương Nam", mặc áo thụng, chân đi hài mũi cong, đầu đội vương miện đính 9 con phượng bằng vàng thật và nhiều ngọc châu óng ánh. Bà đi đến giữa tấm thảm, cả triều đình vái chào. Với một vẻ đẹp lộng lẫy, bà đi thẳng vào phòng lớn giữa lúc nhà vua đang ngồi trên ngai thấp ở đó. Hôn lễ ngắn gọn, đơn giản. Hoàng đế và hoàng hậu sánh vai bước đi trong tiếng nhạc mừng qua Tử Cấm Thành vào điện Kiến Trung, nơi ở và làm việc chính. Sau này, họ có với nhau 5 người con: 2 hoàng tử và 3 công chúa.
    • Cuộc sống xa xứ
    • Cách mạng Tháng Tám thành công, Bảo Đại thoái vị cùng gia đình rời khỏi Đại Nội, tới ở cung An Định, bên bờ sông An Cựu. Thời gian sau, trong bối cảnh nhà Nguyễn đã suy vong, bà Nam Phương sang Pháp sống những năm tháng cuối đời.
    • Giữa đất khách, bà sống ẩn dật trong yên tĩnh với một tài sản chẳng ai bằng. Ngoài 2 chung cư lớn ở Neuilly và đại lộ Opéra (Paris), bà còn sở hữu nhiều nhà đất ở các nước Maroc, Congo, cùng nhiều ngọc ngà, châu báu.
    • Dân làng Chabrignac kể rằng, bà Nam Phương giàu có, nhưng sống thiếu hạnh phúc, bà chỉ sống âm thầm trong ngôi nhà vắng vẻ.
    • Một lần, sau chuyến đi chơi về, bà thấy đau cổ. Bác sĩ tới thăm bệnh, nói bà bị viêm họng nhẹ, không ngờ sau đó, bà bị khó thở. Ông quản gia và mấy cô giúp việc vội chạy đi tìm bác sĩ khác ở làng bên, cách mươi cây số. Nhưng bà càng khó thở hơn và trái tim bà đã ngừng đập ở tuổi 49. Đó là ngày 14/9/1963.
    • Trong giờ phút lâm chung, ngoài những người giúp việc, bên cạnh bà không có một người thân. Đến viếng bà là những người có mối quan hệ gần gũi như công chúa Như Lý, con gái Vua Hàm Nghi, và vài viên chức thuở xưa làm việc với cựu hoàng Bảo Đại. Đám tang bà hoàng hậu thưa thớt, vắng vẻ, không tiếng khóc than, không lời ai điếu. Nấm mộ đơn sơ đặt trong nghĩa trang của nhà thờ ngay tại Chabrignac, kém cả những ngôi mộ xây đủ hình khối ở ngay bên cạnh.
    • Người tới thăm viếng có thể nhìn tấm bia, mặt trước ghi mấy dòng tiếng Pháp: "Ici, repose l'impéreatrice d'Annam née Jeanne Mariette Nguyễn Hữu Thị Lan". (Đây là nơi an nghỉ của bà Hoàng hậu Việt Nam tên là Jeanne Mariette Nguyễn Hữu Thị Lan). Mặt sau tấm bia khắc dòng chữ Hán: "Đại Nam Nam Phương Hoàng hậu chi mộ" (mộ phần bà Hoàng hậu Nam Phương của nước Đại Nam).
    Click the image to open in full size.
    • Ngôi mộ của Nam Phương Hoàng Hậu

Đàn Nam Giao triều Nguyễn

  • là nơi các vua Nguyễn tế trời.
  • Đàn Nam Giao được xây dựng vào năm 1803, đặt tại làng An Ninh, thời vua Gia Long. Năm 1806, đàn được dời về phía nam của kinh thành Huế, trên một quả đồi lớn thuộc làng Dương Xuân, nay thuộc địa phận phường Trường An, thành phố Huế.
  • Click the image to open in full size.
  • Đàn Nam Giao
  • Click the image to open in full size.
  • Trai Cung
  • Click the image to open in full size.
  • Cờ vẽ sao trong đoàn lễ tại đàn Nam Giao
  • Click the image to open in full size.

  • Click the image to open in full size.

    Click the image to open in full size.

  • Click the image to open in full size.

  • Đàn gồm 3 tầng, xây chồng lên nhau, tượng trưng cho "tam tài": thiên, địa, nhân; xung quanh là các bó gạch xếp chắc chắn.
  • Nền đàn có kích thước 340×265 mét.
  • Tầng trên cùng: hình tròn – Viên Đàn – tượng trưng cho trời, xung quanh có lan can quét vôi màu xanh. Đường kính 40,5 m cao 2,8 m. Trên nền Viên Đàn có lát những phiến đá Thanh được khoét lỗ tròn. Đến kỳ tế lễ, những lỗ này được dùng để cắm cột dựng lều vải màu xanh hình nón, gọi là Thanh Ốc.
  • Tầng tiếp theo: hình vuông – Phương Đàn – tượng trưng cho đất, lan can quét vôi màu vàng.Kích thước 83×83 m, cao 1 m. Khi tế, người ta dựng lều vải màu vàng, gọi là Hoàng Ốc.
  • Tầng dưới cùng: hình vuông, lan can quét vôi màu đỏ, tượng trung cho con người. Có kích thước 165x165 m, nền cao 0,85 m.
  • Cả ba tầng đều trổ cửa và bậc cấp ở 4 mặt Đông, Tây, Nam, Bắc.
  • Xung quanh ba tầng đàn này còn có các công trình như Trai Cung (dành cho vua vào nghỉ ngơi trai giới trước khi tế vài ngày), Thần Trù (nhà bếp, nơi chuẩn bị các con vật cúng tế), Thần Khố (kho chứa đồ dùng cho cuộc tế) và một số công trình phụ khác.
  • Theo quan niệm xưa "Vua là Thiên tử" (con trời) nên chỉ có vua mới được quyền cúng tế trời đất (cha mẹ của vua), cầu cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, tạ ơn trời đất. Lễ Tế Giao đầu tiên dưới thời Nguyễn được tổ chức năm 1807 và từ đó trở đi được tổ chức vào mùa xuân hàng năm cho đến thời Thành Thái, vào năm 1907, thì đổi lại 3 năm một lần.
  • Chủ tế: nhà vua và các quan phải trai giới 3 ngày trước khi tế. (Dưới thời Bảo Đại, thời gian trai giới rút xuống còn 1 ngày).
  • Vật tế: Được gọi là những "con sinh", đó là những con vật như trâu, heo, dê.
  • Dọc đường từ Đại Nội đến Giao Đàn, nhân dân phải kết cổng chào, lập hương án đón đám rước nhà vua đi qua.(còn tiếp)
  • Ngày 4/6, Lễ tế Nam Giao, một đại lễ cung đình xưa đã được tái dựng gần với nguyên bản. Các nhà tổ chức khẳng định đây là lễ tế giao thật sự chứ không đơn thuần là một lễ hội.

    Theo sử sách ghi lại: Tế Nam Giao là lễ tế trời, đất và các vị thần linh quan trọng nhất trong bờ cõi quốc gia. Bởi vậy, trong chế độ quân chủ phong kiến ở nước ta, đây là lễ tế quan trọng nhất và được tiến hành hoành tráng, trang trọng nhất.

    Click the image to open in full size.

    Hoàng đế xuất cung.
  • Dưới triều Nguyễn, đàn Nam Giao được xây dựng ở phía nam Kinh Thành từ năm 1806. Đàn gồm 3 tầng, tầng trên hình tròn tượng trưng cho Trời, hai tầng dưới hình vuông tượng trưng cho Đất và Con Người. Đàn Nam Giao nằm trong một khuôn viên rộng 390m x 265m, có tổng diện tích khoảng 10ha, bên trong là rừng thông xanh biếc.
    Click the image to open in full size.
    Đàn Nam Giao đêm 4/6.

  • Do nhưng ý nghĩa lịch sử văn hóa của lễ tế Nam Giao nên các nhà tổ chức Festival Huế đã cố gắng phục dựng lễ tế trong ba kỳ Festival 2002, 2004, 2006. Ban đầu chỉ là lễ hồi cung, rồi xuất cung và hồi cung, đến năm 2006 cả ba phần được tái hiện. Tuy nhiên, do khối lượng công việc khá lớn, đội ngũ tham gia không chuyên nghiệp và kể cả việc nghiên cứu phục dựng chưa thấu đáo nên những lần tổ chức trước đây chưa thật sự thành công như ý.
    Rút kinh nghiệm, việc phục dựng lễ tế Nam giao chỉ tái hiện hai phần: Lễ xuất cung và lễ tế tại đàn Nam Giao.

    Lễ Xuất cung diễn ra trong không gian từ điện Thái Hòa qua Ngọ Môn ra cửa Quảng Đức đến bến Phu Văn Lâu (Nghênh Lương Đình), theo hành trình của lễ xuất cung của các vua triều Nguyễn.

    Click the image to open in full size.

    Click the image to open in full size.

    Click the image to open in full size.

    Click the image to open in full size.
    Hoàng đế rời ngai vàng lên đàn Nam Giao tế trời đất.

    Từ 5 giờ 30 sáng 4/5, lễ đại triều đã được tổ chức tại điện Thái Hòa. Vị quan đầu triều mời nhà vua rời ngai vàng, lên kiệu qua Ngọ Môn, nhập vào đoàn ngự đạo xuất cung. Đoàn ngự đạo được chia là 3: Tiền đạo, Trung đạo và Hậu đạo. Đến bến Phu Văn Lâu – Nghênh Lương Đình các nghi vệ được tái thiết để tiễn nhà vua qua sông bằng thuyền Tế Thông lên đàn Nam Giao.

    Click the image to open in full size.

    Click the image to open in full size.

    Click the image to open in full size.

    Phần Lễ tế Nam Giao diễn ra từ 19 giờ đến 21 giờ, không gian tổ chức từ Trai Cung đến đàn tế, để cầu cho phong điền vũ thuận, quốc thái dân an, thiên hạ thái bình. Đoàn ngự đạo rước nhà vua từ Trai Cung (phía tây bắc đàn tế) đi đến đàn chính.
    Đàn Nam Giao được trang hoàng với hương án, long liễn, ngự liễn, đèn lồng được tái thiết lại theo quy chuẩn nghiêm ngặt của sách xưa để lại.

    Click the image to open in full size.

    Click the image to open in full size.
    Lế tế Tân trở.

    Đặc biệt có sự tham gia của 8 làng xã có truyền thống văn hóa tiêu biểu tại Thừa Thiên Huế, trực tiếp thực hiện các nghi lễ tế cúng tại 8 án thờ các vị Thần linh đặt tại 4 góc của tầng Phương Đàn (tầng 2).

    Click the image to open in full size.

    Click the image to open in full size.
    Án thờ thần linh và đội bát dật trong lễ tế.

    Phần chính của Lễ tế Nam Giao diễn ra tại Đàn thượng (Viên đàn), nhà vua được các Cung đạo dẫn lên Thăng đàn bái vị. Tiếp đó là lễ Điện ngọc bạch (dâng ngọc và lụa), lễ Tấn trở (dâng các con sinh và thức ăn), Lễ sơ hiến tửu (dâng rượu lần đầu), Đọc chúc (nguyện cầu), Chung hiến tửu (dâng rượu lần cuối), Tống thần (tiễn các vị thần đi) với hàng trăm nghi tiết.

    Click the image to open in full size. 
    Hoàng đế hồi loan

    Lễ tế kết thúc vào lúc 21 giờ với nghi lễ Hoàng đế hồi loan.

    Bài đọc thêm

  • Ngay sau khi lên ngôi (1802), vua Gia Long cho lập đàn ở làng An Ninh vào năm 1803. Sau đó ít năm, triều đình lại bỏ vị trí ấy, cho xây dựng đàn tế khác ở đất làng Dương Xuân phía Nam kinh thành Huế (di tích nay đang bảo lưu).
    Ðàn tế trời được khởi công xây dựng vào ngày 25/3/1806. Ðầu năm 1807, triều đình Gia Long đã cử hành lễ tế Giao lần đầu tiên tại đây.
    Ðàn Nam Giao là đàn tế lộ thiên. Mô thức kiến trúc này mang ý nghĩa vừa tôn giáo vừa chính trị của nền quân chủ phương Ðông. Ðàn Nam Giao gắn với thuyết Thiên mệnh của đạo Nho. Cấu trúc đàn diễn tả quan niệm vũ trụ còn hạn chế của bao triều đại trước: Trời tròn, đất vuông.
    Ðàn Nam Giao quay mặt về hướng Nam. Vòng tường bằng đá chung quanh khuôn viên của đàn có trổ bốn cửa trống rộng nhằm theo bốn hướng. Trước mỗi cửa đều xây một bức bình phong rất lớn (rộng 12,5m, cao 3,2m, dày 8,8m). Trong dịp tế, trước mỗi cửa đều cắm lá cờ lớn với màu sắc khác nhau: cửa Bắc màu đen, cửa Nam màu đỏ, cửa Ðông màu xanh, cửa Tây màu trắng.
    Ðàn tế được cấu trúc thành ba tầng, dưới lớn, trên nhỏ chồng lên nhau tượng trưng cho thuyết tam tài: Thiên, Ðịa, Nhân. Mỗi tầng mang một hình dạng và màu sắc riêng: Trời tròn, đất vuông, thiên thanh địa hoàng. Tầng trên cùng hình tròn gọi là Viên đàn tượng trưng cho trời. Lan can chung quanh quét vôi màu xanh. Ngày tế giao, người ta dựng lên ở tầng này một cái nhà hình nón lợp vải màu xanh gọi là Thanh ốc. Tầng nối tiếp theo có hình vuông gọi là Phương Ðàn tượng trưng cho đất. Lan can bốn phía quét vôi màu vàng (địa hoàng). Khi tế, triều đình cho dựng ở đây một cái nhà vuông lợp vải vàng, nhỏ hơn nhà trên, gọi là Hoàng ốc. Tầng dưới cũng hình vuông, lan can xung quanh quét vôi màu đỏ tượng trưng cho người. Khi tế, tại đây có 128 văn sinh và vũ sinh đứng múa. Ba tầng cộng lại cao 4,65m. Ðàn Nam Giao áp dụng nguyên tắc Âm dương ngũ hành của Dịch học.
  • Từ thời Gia Long (1802 - 1819), lễ tế giao được cử hành vào thượng tuần tháng hai âm lịch hằng năm. Từ năm 1880, vì thấy mỗi lần tế lễ quá tốn kém nên triều đình Thành Thái thay đổi ba năm mới tế một lần vào các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu. Bộ Lễ và Bộ Công phải chuẩn bị từ mấy tháng trước cho việc lễ. Mỗi lần tế, vua đến và ở lại Trai cung trước 3 ngày, thời Bảo Ðại rút xuống còn một ngày. Từ Ðại Nội vua đi lên Trai cung với một đám rước gọi là Ngự đạo có từ 1000 đến 5000 người, tất cả đều mặc lễ phục và trang sức rực rỡ. Vua ngồi trên Ngự liễn do lính Loan gánh đi ở giữa trung đạo. Ðại lễ chính thức bắt đầu lúc 2 giờ sáng và kéo dài gần 3 giờ mới xong...
    Những đàn tế trời của các thời Lý, Trần, Lê nay đều không còn nữa. Ðàn Nam Giao triều Nguyễn ở Huế là di tích duy nhất còn lại tương đối nguyên vẹn. Ðến thăm nó, du khách có dịp hiểu biết thêm nhiều lĩnh vực của đời sống văn hoá, tinh thần trong triều đình phong kiến Việt Nam.
Điện Voi Ré
  • nằm cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5 km về phía Tây-Nam, cách Hổ Quyền khoảng 400m, trên địa phận thôn Trường Đá thuộc xã Thủy Biều, thành phố Huế. Điện Voi Ré là chứng tích một thời của đội Kinh tượng nhà Nguyễn, đây là một di tích độc đáo thuộc quần thể di tích cố đô Huế.
  • Click the image to open in full size.
  • Tam quan Điện Voi Ré
  • Click the image to open in full size.
  • Tam quan, phía trước là Hồ Điện, nơi voi uống nước thiêng mỗi khi giao đấu với hổ tại Hổ Quyền
  • Dưới thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, trong một trận giao tranh với quân đội Đàng Ngoài, một dũng tướng của Đàng Trong hy sinh giữa trận tiền. Đau buồn trước cái chết của chủ, con voi của vị dũng tướng đã chạy trên một quãng đường dài hằng trăm dặm từ chiến địa về tận thủ phủ Phú Xuân, đến địa điểm phía đông của đồi Thọ Cương, nó đã rống lên một tiếng vang trời như phẫn uất, như đau thương cùng cực rồi phủ xuống trút hơi thở cuối cùng. Cảm động trước sự trung thành của một con vật có nghĩa, dân địa phương đã làm lễ an táng, xây mộ cho nó, nguời ta vẫn gọi một cách mộc mạc là mộ Voi Ré.
  • Sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã cho xây dựng bên cạnh mộ con voi một ngôi điện thờ với tên gọi là Long Châu Miếu để thờ các vị thần bảo vệ và miếu thờ bốn con voi dũng cảm nhất trong chiến trận của triều Nguyễn. Từ truyền thuyết và sự kiện lịch sử như vậy, dân gian quen gọi ngôi miếu này là điện Voi Ré.
  • Click the image to open in full size.
  • Miếu Long Châu
  • Click the image to open in full size.
  • Đông Phối Điện
  • Click the image to open in full size.
  • Tây Phối Điện
  • Điện Voi Ré được xây dựng trên một khu đất rộng, diện tích chừng 2.000m2, nằm về phía Đông Nam đồi Thọ Cương. Đại thần Nguyễn Đức Xuyên, chưởng tượng quân ty Tượng Chính là người chỉ huy việc xây dựng.
  • Điện Voi ré được xây theo nguyên tắc chung về thuật phong thủy, vận dụng Thành Lồi làm bình phong; hồ Điện tạo minh đường hồ có diện tích khoảng 1.000m², hồ được trồng sen. Kiến trúc điện theo kiểu chũ "môn", bên ngoài có vòng la thành xây bằng gạch. Phía trước cổng tam quan có hệ thống bậc cấp đi lên gồm 17 bậc; bên trên chính giữa ở lối chính có ba chữ Hán bằng sành “Nghiễm Nhược Lâm”. Thẳng theo lối chính, trước khi vào đến sân miếu, là một bức bình phong Long Mã.
  • Miếu Long Châu nằm ở trung tâm làm theo kiểu trùng thiềm điệp ốc, gồm năm gian hai chái, mái lợp ngói liệt, tiền đường kiểu vỏ cua. Bên trong trang trí bằng hệ thống liên ba bằng gỗ với 104 ô hộc chủ yếu là chữ Thọ theo lối triện và hoa lá chim muông. Chính giữa ngôi miếu là một bức hoành phi khắc nổi ba chữ Hán màu vàng “Long Châu Miếu”, bức hoành phi này được làm lại mới vào năm Khải Định thứ 2 (1917). Trong điện nguyên xưa có thờ 15 bài vị thờ các vị thần bảo hộ lính. Hiện nay, trong miếu chỉ còn lại bài vị của 4 vị thần là: thần Thiên Sư, thần Chúa Động, thần Hồng Nương, thần Tiền Hậu Khai Khẩn.
  • Hai bên miếu Long Châu là Đông Phối Điện và Tây Phối Điện, đây là nơi thờ những con voi lập được nhiều chiến công trong trận mạc vào thời kỳ quật khởi dựng xây đế nghiệp của triều Nguyễn, và đồng thời đây cũng làm nơi khoản đãi quan khách sau khi tế lễ. Trước hai ngôi nhà này, còn có hai tòa miếu phụ thờ thần vị voi, còn được gọi là miếu Tượng.
  • Sau chính điện là hai gò đất, xây thành xung quanh, trước có bia đá đề "Ô Long Tượng Mộ" (mộ voi Ô Long)
  • Trước đây ở hai miếu hai bên phía trước còn có bốn bài vị khác đề tên tước hiệu được phong của bốn con voi lập nhiều công trạng gồm: Đô Đốc Hùng Tượng Ré; Đô Đốc Hùng Tượng Bích; Đô Đốc Hùng Tượng Nhĩ và Đô Đốc Hùng Tượng Bôn.
  • Sau khi điện Voi Ré xây xong, triều đình đã ban cấp thêm nhiều tiền bạc để tổ chức tế lễ hai lần trong mỗi năm vào mùa xuân và mùa thu. Những con voi trung nghĩa đã được suy tôn ngang hàng với thần linh. Đồng thời, nơi đây còn thờ thêm những vị thần khác ở đó để cầu mong bảo vệ cho những con voi nhiều chiến tích. Năm 1825, vua Minh Mạng xét thấy các vị thần đều có công trong việc bảo vệ voi nên đã sắc phong cho điện Voi Ré và ban thêm cho các vị thần danh hiệu "Trợ Oai Tượng Võ Linh Ứng Hộ Tượng chi thần".
Điện Hòn Chén
tọa lạc trên núi Ngọc Trản, thuộc làng Ngọc Hồ, xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Núi Ngọc Trản xưa có tên là Hương Uyển Sơn, sau mới đổi tên là Ngọc Trản (có nghĩa là chén ngọc), dân gian vẫn quen gọi là Hòn Chén vì nó có liên quan đến giai thoại về vua Minh Mạng đánh rơi chén ngọc.


Click the image to open in full size.
Điện Hòn Chén

Click the image to open in full size.


Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.
Điện Hòn Chén bên dòng sông Hương

Click the image to open in full size. 
Tấp nập thuyền của du khách tại điện Hòn Chén


Click the image to open in full size. 
Điện Hòn Chén tấp nập khách hành hương trong ngày đại lễ


Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.


Tái hiện cảnh vua dâng hương tại điện Hòn Chén



Click the image to open in full size.

Các thuyền đang chuẩn bị xuất phát lên Điện Hòn Chén để tham dự lễ hội


Trong quần thể di tích cố đô Huế, có lẽ điện Hòn Chén gắn với nhiều giai thoại nhất. Dân gian còn lưu truyền rằng điện Hòn Chén xưa có tên là Hoàn Chén với ý nghĩa “trả lại chén ngọc”, vì vua Minh Mạng trong một lần lên đây đã đánh rơi một chén ngọc xuống dòng sông Hương, tưởng không cách gì lấy lại được thì bỗng nhiên một con rùa to bằng chiếc chiếu nổi lên ngậm chén ngọc trả lại cho nhà vua. Song, trong các văn bằng sắc phong chính thức của các vua Nguyễn, thì ngôi điện vẫn xuất hiện với tên chính thức “Ngọc Trản Sơn Từ” (đền thờ ở núi Ngọc Trản). Đến thời Đồng Khánh (1886-1888), ngôi điện mới được đổi tên là Huệ Nam Điện (ý là mang lại ân huệ cho vua nước Nam) và cũng gắn với nhiều giai thoại khác nữa. Qua bao nhiêu năm tháng gắn với bao truyền thuyết , dân gian vẫn gọi điện làĐiện Hòn Chén hay Điện Hoàn Chén đều đúng .


Ðiện Hòn Chén là nơi ngày xưa người Chàm thờ nữ thần PoNagar, sau đó người Việt theo Thiên Tiên Thánh Giáo tiếp tục thờ bà dưới xưng Thánh Mẫu Thiên Y A Na.
Điện Hòn Chén nguyên là ngôi đền thờ nữ thần PoNagar (Nữ Thần Mẹ xứ sở) của người Chăm. Theo truyền thuyết dân gian Chăm, nữ thần PoNagar là con của Ngọc hoàng Thượng đế được sai xuống trần gian, bà có công lao tạo ra trái đất và các loại gỗ trầm, lúa gạo. Hương mộc và kỳ nam là thứ gỗ tượng trưng cho sự linh hiển của Nữ thần. Bà còn làm tỏa hương gạo ngọt ngào, cổ vũ dân trồng cây bồ đề.
Tiếp nhận từ người Chăm một di tích tôn giáo độc đáo như điện Hòn Chén, người Việt dễ dàng dung hợp được cả một tín ngưỡng thần linh mang sắc thái riêng của người Chăm. Có lẽ vị Nữ thần của dân tộc Chăm xét trên bình diện tâm linh có nét tương đồng với các Nữ thần của người Việt. Đây được xem là sự hòa nhập về tôn giáo hay còn gọi là bản địa hóa . Để ký âm cho danh từ PoNagar bằng Hán văn, các Nho sĩ ngày xưa đã phải tạo ra một âm hưởng hao hao và mang một ý nghĩa tương đương nhất định bằng bốn chữ Hán: Thiên Y A Na. Tên gọi Thiên Y A Na là tên gọi của người Việt hay còn gọi là mẹ Xứ Sở theo tín ngưỡng của các vùng khác như Nha Trang - Khánh Hòa , v..v..
Từ năm 1954, Liễu Hạnh Công Chúa, tức là Vân Hương Thánh Mẫu cũng được đưa vào thờ ở đây. Ngoài ra, tại điện Hòn Chén, người ta còn thờ Phật, thờ Thánh Quan Công và hơn 100 vị thần thánh khác thuộc vào hàng đồ đệ của các thánh thần nói trên. Vua Ðồng Khánh cũng là một trong những đồ đệ ấy. Điện Hòn Chén được vua Minh Mạng cho tu sửa và mở rộng vào tháng 3/1832. Sau đó hai năm, đền lại được trùng tu. Như vậy , xét về mặt tín ngưỡng , điện Hòn Chén bối cục thờ không theo nguyên tắc , mà phối thờ nhiều tín ngưỡng khác nhau .


Từ năm 1883 đến năm 1885, vì gặp một giai đoạn éo le của lịch sử triều Nguyễn, vua Ðồng Khánh chờ đợi mãi vẫn chưa được lên nối ngôi cha nuôi là vua Tự Ðức. Ông nhờ mẹ là bà Kiên Thái Vương lên đền Ngọc Trản cầu đảo và hỏi Thánh Mẫu Thiên Y A Na xem mình có làm vua được không. Mẫu cho biết ông sẽ toại nguyện.
Bởi vậy, sau khi tức vị, năm 1886, vua Ðồng Khánh liền cho xây lại đền này một cách khang trang, làm thêm nhiều đồ tự khí để thờ, và đổi tên ngôi đền là Huệ Nam Ðiện để tỏ lòng biết ơn Thánh Mẫu. Huệ Nam nghĩa là ban ân huệ cho nước Nam, vua Nam. Có một điều kỳ lạ, chính vua Ðồng Khánh đưa cuộc lễ hằng năm tại đây vào hàng quốc lễ và tự nhận mình là đồ đệ của Thánh Mẫu, mặc dù nhà vua chỉ gọi thánh mẫu bằng "Chị". Theo nguyên tắc xưa, ông vua nào cũng đứng trên các thánh thần trong cả nước, nhưng ở đây vua Ðồng Khánh lại hạ mình xuống làm "em" của Mẫu. Hiện nay trong đền vẫn còn thờ vài bức tranh ảnh của chính nhà vua được treo ở đây .


Ngày nay, điện Hòn Chén được nhiều người biết đến không phải vì đó là một di tích tôn giáo cho bằng đó là một di tích kiến trúc phong cảnh. Công trình kiến trúc tôn giáo ấy đã được người xưa lồng vào trong một cảnh thơ mộng hữu tình của núi sông xứ Huế.
Có một dãy núi thấp ăn từ chân Trường Sơn chạy về phía đồng bằng của Huế, bị một đoạn của sông Hương chặn đầu tả ngạn. Cả dãy núi như bị dồn ép nguồn sinh lực ở đây, tạo thành một ngọn núi có vẻ biệt lập, cây cối mọc xanh um, đứng cheo leo bên bờ vực thẳm, đó là chỗ sâu nhất của sông Hương. Người xưa đã chọn hòn núi Ngọc Trản ấy để dựng đền thờ.


Trên đỉnh núi có một chỗ đất trũng xuống, đường kính vài mét, chung quanh có vòng đá dựng như bờ giếng, hễ gặp mưa thì nước đọng lại trông như cái chén đựng nước trong. Cho nên từ xa xưa, hòn núi được đặt tên Ngọc Trản (núi Chén Ngọc) và dân gian gọi là Hòn Chén.
Trong một tờ thần sắc ban cho đền năm 1886, vua Ðồng Khánh đã ví toàn cảnh thiên nhiên ở đó như hình thế một con sư tử đang nằm thò đầu xuống sông uống nước.
Khoảng 10 công trình kiến trúc xinh xắn của ngôi đền đều nằm ở lưng chừng sườn đông nam thoai thoải của ngọn núi, ẩn mình dưới bóng dâm của một khóm rừng cổ thụ tán lá xum xuê. Những hệ thống bậc cấp chạy từ đền cao xuống tận bến nước trong xanh. Mặt sông phẳng lặng như gương, được dùng cho toàn cảnh thiên nhiên và kiến trúc nghiêng mình soi bóng. Dù thuyền cập bến, đứng nhìn lên, khách dễ tưởng mình đang lạc vào chốn thần tiên.
Mặt bằng kiến trúc của toàn bộ ngôi đền không rộng, gồm điện thờ chính là Minh Kính Ðài nằm ở giữa, mặt hướng ra sông; bên phải là Nhà Quan Cư, Trinh Cát Viện, Chùa Thánh; bên trái là Dinh Ngũ Vị Thánh Bà; bàn thờ Các Quan, động thờ ông Hạ Ban (tức ông Hổ - con cọp), Am Ngoại Cảnh. Dưới bờ sông, cuối đường bên trái là Am Thủy Phủ. Trên mặt bằng kiến trúc ấy, còn có một số bệ thờ và am nhỏ khác nằm rải rác đó đây, như Am Cô Ngọc Lan, Am Trung Thiên...
Minh Kính Đài được xây dựng năm 1886 dưới thời vua Ðồng Khánh với mặt bằng 15mx17m, nó được chia làm 3 cung (theo thứ tự từ cao xuống thấp và từ sau đến trước căn cứ vào chức năng thờ phụng).
Minh Kính Cao Ðài Ðệ Nhất Cung, còn gọi là Thượng Cung hay Thượng Ðiện, chia làm 2 tầng. Tầng trên thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na, Thánh mẫu Vân Hương, ảnh vua Ðồng Khánh và một số thần thánh cao cấp khác trong tôn giáo; tầng dưới dùng làm chỗ tiếp khách và nơi ở của người thủ từ...
Minh Kính Trung Ðài Ðệ Nhị Cung, còn gọi là Cung Hội Ðồng, giữa xây bệ thờ cao và lớn, cung này thờ hàng chục tượng thần thánh khác nhau, có cả tượng Phật nữa, và dùng làm nơi thiết trí các đồ thờ dùng để rước sắc trong những dịp lễ lớn: Võng Cung Nghinh Mẫu, Phụng Liễn, Long Ðình.
Minh Kính Tiểu Ðài Ðệ Tam Cung, còn gọi là Tiền Ðiện - nơi có xây một hương án lớn, hai bên đặt trống chuông, là chỗ cử hành tế lễ. Nơi đứng cúng lạy của khách hành hương còn được nới rộng thêm bằng một mái hiên và cái sân ở mặt trước tòa nhà.
Trên bờ nóc quyết của Minh Kính đài cũng như các công trình kiến trúc khác ở chung quanh, hình ảnh con phụng được dùng nhiều để trang trí, vì con phụng tượng trưng cho đàn bà, ở đây là các nữ thần. Nó cũng được dùng để trang trí rất nhiều trên các đồ tự khí.


Phần lớn các đồ thờ quý báu ở Minh Kính Ðài đều ghi rõ là làm ra dưới thời vua Ðồng Khánh. Nhìn chung thì thấy trang hoàng rất bề bộn, nhưng có nhiều thứ lạ mắt đối với người xem.
Điện Hòn Chén nhìn từ sông Hương
Click the image to open in full size.


Điện Hòn Chén ngoài giá trị là một nơi phục vụ tín ngưỡng , tâm linh tôn linh tôn giáo mà nó là một trong những điễm thu hút khách tham quan . Chính kiến trúc của đền cùng với dòng sông, làng mạc, núi non, tạo nên cho bức tranh của điện Hòn Chén thêm hữu tình.
Gần nhất bên phải là hòn núi Kim Phụng uy nghi đồ sộ. Ngay bên trái đền, vách đá cheo leo trên bờ dốc thẳm, cùng với tượng cọp trừng mắt, dường như được dùng làm mối nguy hiểm đe dọa thường xuyên đối với những người yếu bóng vía và làm tăng thêm vẻ linh thiêng thần bí của các thần thánh đối với "con tôi đệ tử" của Thiên Tiên Thánh Giáo.
Có một điều thú vị nữa đối với du khách, nhất là các nhà nghiên cứu dân tộc học, là trong khi ở Hổ Quyền bên kia sông Hương, con cọp phải đưa ra đấu trường để bị tiêu diệt, thì ở điện Hòn Chén bên này sông, con cọp lại được thờ cúng kính cẩn như một vị thần linh. Một sự khác nhau rất lớn khiến cho con cọp bên trong đền được nâng lên là một vị thần tương tự con " Bạch Hổ" của miền Nam mà người người tôn thờ .
Điện Hòn Chén là ngôi điện duy nhất có một vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân xứ Huế và đó cũng là ngôi điện duy nhất ở Huế có sự kết hợp giữa nghi thức cung đình và tín ngưỡng dân gian; giữa lễ hội và đồng bóng; giữa văn hóa tâm linh và mê tín dị đoan. Đây cũng là nơi trang trí mỹ thuật đạt đến đỉnh cao vào cuối thế kỷ 19. Điện còn là sự pha trộn của nhiều tín ngưỡng tôn giáo mang sắc thái đa dạng .
Điện Hòn Chén không chỉ là một di tích lịch sử và tôn giáo mà còn là một thắng cảnh, một điểm tham quan văn hóa độc đáo thu hút hàng ngàn khách tham quan, nhất là vào dịp lễ hội tháng 3 và tháng 7 Âm lịch hàng năm.


Lễ Hội Điện Hòn Chén

Ðiện Hòn Chén thờ Thánh mẫu Thiên Y A Na, từ thế kỷ 16, hàng năm cử hành lễ hội vào hai kỳ: tháng ba và tháng bảy.
Tại Huế, Thánh Mẫu được thờ tại điện Hòn Chén, làng Hải Cát, huyện Hương Trà. Nghi lễ tại Ðiện Hòn Chén rất long trọng. Dân làng tổ chức tế tại đình, trước ngày chánh tế có lễ nghinh thần để rước tất cả các vị thần trong làng về đình. Ðám rước Thiên Y A Na Thánh Mẫu từ Huệ Nam đến đình làng Hải Cát tổ chức trọng thể hơn cả.
Lễ hội giống như một festival về văn hóa dân gian trên sông Hương, tấp nập những chiếc “bằng” (thuyền kết đôi) với cờ phướn, hương án đủ màu sắc, hành hương về điện Hòn Chén, nơi thờ Thánh Mẫu. Tại khu vực điện sẽ diễn ra Thánh Mẫu tuần du làng Hải Cát, lễ tế làng Hải Cát, lễ cung nghinh Thánh Mẫu hồi loan về điện, lễ phóng sanh, phóng đăng...
Ðám rước cử hành trên những chiếc “bằng”. Trên mỗi bằng có bàn thờ Thánh Mẫu cùng với long kiệu. Trên long kiệu có hòm sắc của vua ban Thánh Mẫu, liền kế đó là một bằng khác có bàn thờ, kiệu và hòm sắc của nhị vị Thượng Ngàn và Thuỷ Cung Thánh Mẫu. Sau đó là những chiếc bằng chở các tự khí, tàn tán cờ quạt.
Long kiệu của Thánh Mẫu là kiệu thêu, do các trinh nữ ăn mặc sặc sỡ khiêng, còn các bà, người mang bình hương, ống trầu, bình trà, hòm đựng đồ trang sức, kẻ mang cờ, biển, tàn, lọng, gối, quạt... Các thanh niên thì vác các đồ lễ bộ, bát bửu và các tự khí khác. Ðám rước đầy màu sắc rực rỡ, không khí trang nghiêm. Khi đoàn ghé bến, đám rước chuyển từ sông lên bộ, đi cho đến đình làng Hải Cát, có phường bát âm đi sau kiệu.
Trong lúc đoàn bằng khởi hành từ bến trước Huệ Nam điện, các bà đồng đã cùng nhau lên đồng ngay ở chiếc bằng có bàn thờ Thượng Thiên Thánh Mẫu. Những cuộc lên đồng hầu bóng tiếp tục cho đến khi đoàn bằng đi tới bờ, nơi đám rước chuyển từ sông lên bộ. Những cuộc lên đồng có bàn thờ Thượng Thiên Thánh Mẫu. Những cuộc lên đồng hầu bóng tiếp tục cho đến khi đoàn bằng đi tới bờ, nơi đám rước chuyển từ sông lên bộ.
Dân làng đi theo đám rước cùng với các thiện nam tín nữ. Nghinh thần xong, dân làng làm lễ Túc Yết (tức yết kiến kính trọng) theo nghi thức cổ truyền.
Suốt đêm, trên mặt sông Hương và có khi ở trước đình làng là các cuộc hát thờ, hầu đồng, hầu bóng. Sáng ngày hôm sau là lễ chánh tế, tổ chức từ 02g – 05g00 sáng. Sau đó là lễ Tống thấn. Mặt sông Hương lại bùng lên với âm nhạc, pháo nổ tưng bừng, hàng trăm chiếc thuyền, bằng chen chúc, những bộ lễ phục rực rỡ.
Trải qua những thăng trầm lịch sử, những năm gần đây lễ hội này đã được phục hồi theo các tập tục truyền thống mang đậm màu sắc văn hóa dân gian địa phương. Lễ hội điện Hòn Chén còn được gọi là Lễ Vía Mẹ, không chỉ là của những tín đồ Thiên Tiên Thanh Giáo, mà còn là của những người theo đạo thờ Mẹ, đạo hiếu, đạo làm người. Theo ý nghĩa đó, việc phục hồi lễ hội điện Hòn Chén là phục hồi một giá trị văn hóa truyền thống .
Lễ hội không chỉ dừng lại là một lễ hội văn hóa dân gian mà nó còn thu hút một lớn số lượng du khách trong nước lẫn nước ngoài . Lễ hội pha trộn nhiều màu sắc tín ngưỡng và không biệt tín ngưỡng , lễ hội đưa mọi người đến gần nhau hơn .
Đến thăm thành phố Huế đúng dịp diễn ra lễ hội, xuôi thuyền ngược dòng Hương Giang đến núi Hòn Chén, du khách sẽ được tham gia vào lễ tế điện Hòn Chén . Vậy mới biết , sức hút của Huế không chỉ ở những công trình đền đài lăng tẩm, mà còn có cả những lễ hội linh thiêng như lễ điện Hòn Chén hằng năm.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét