Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2015

Kháng chiến của Việt Nam



  1. Chống Tần (218-208 TCN) • 
  2. Chống Triệu (179 TCN) •
  3. Chống Tây Hán (111 TCN) • 
  4. Chống Đông Hán (40-43) •
  5. Chống Đông Ngô (248) • 
  6. Chống Lưu Tống (468) •
  7. Chống Lương (545-550) • 
  8. Chống Đường lần 1 (687) •
  9. Chống Đường lần 2 (722) • 
  10. Chống Đường lần 3 (791) •
  11. Chống Nam Hán lần 1 (930-931) •
  12. Chống Nam Hán lần 2 (938) • 
  13. Chống Tống lần 1 (981) •
  14. Chống Tống lần 2 (1077) •
  15. Chống Nguyên-Mông lần 1 (1258) •
  16. Chống Nguyên-Mông lần 2 (1285) •
  17. Chống Nguyên-Mông lần 3 (1287-1288) •
  18. Chống Minh lần 1 (1406-1407) •
  19. Chống Minh lần 2 (1407-1413) •
  20. Chống Minh lần 3 (1418-1427) •
  21. Chống quân Xiêm (1785) • 
  22. Chống Thanh (1788-1789) •
  23. Chống Pháp lần 1 (1858-1884) •
  24. Chống Nhật (1940-1945) •
  25. Chống Pháp lần 2 (1945-1954) • 
  26. Chống Mỹ (1954-1975)

  1. Chiến tranh Việt–Xiêm (1718)
  2. Chiến tranh Việt–Xiêm (1771-1772)
  3. Chiến tranh Việt–Xiêm (1833-1834)
  4. Chiến tranh Việt–Xiêm (1841-1845)























































Operation Camargue-Cuộc hành quân Camargue
















60 năm, tên một con đường
Thứ năm, 15 Tháng 8 2013 08:56
Con đường ấy chạy dọc theo chiều dài vùng Quảng Trị quê tôi. Nó vốn không có tên. Giống như mọi con đường lớn nhỏ khác, nó chỉ được phân loại và đánh số thứ tự: quốc lộ 1, 2…, tỉnh lộ 30, 40, v.v... Những người lính da trắng và da đen trong đạo quân xâm lược nước ta sau năm 1945 đã đặt tên cho nó là Con Đường Không Vui (La Rue sans Joie), không vui cho quân đội Pháp đã đành, không vui cả cho quân đội Mỹ mấy năm sau (The Street Without Joy). Cái tên ấy sở dĩ lan truyền rộng rãi trên thế giới, trước hết trong giới học thuật và những ai quan tâm đến các cuộc chiến tranh Đông Dương, là công của một học giả - nhà báo nổi tiếng tên là Bernard Fall (Bernard B. Fall) qua công trình biên khảo cùng tên công bố lần đầu ở Mỹ năm 1961, khi tác giả vào tuổi 35. Ông muốn minh chứng, qua khảo sát thực địa, thực tế lịch sử cùng kiến giải khoa học, La Rue sans Joie đã dẫn nước Pháp đến Điện Biên Phủ, và The Street Without Joy chắc chắn sẽ đưa nước Mỹ đến thảm bại, do đó phải ngừng ngay tức khắc cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam.
 Tác giả Bernard Fall đã dành trọn một chương trong cuốn Street Without Joy tường thuật và luận bình về cuộc hành quân lớn tháng 07.1953 trên dãi đất hẹp gồm các ruộng lúa và đụn cát chạy song song bờ biển, cũng là song hành với quãng đường vừa nói, được người Pháp đặt tên là Cuộc hành quân Camargue (Opération Camargue). Đây là một cuộc hành quân lớn, phối hợp lục, hải, không quân, do đích thân tướng Leblanc, Tư lệnh Quân đội Pháp tại Trung Việt Nam chỉ huy, nhằm bao vây, tiêu diệt Trung đoàn 95 Bộ binh Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN), đơn vị chủ lực của Phân khu Bình Trị Thiên hồi bấy giờ. Bernard Fall phân tích: Chiến trường chính trong chiến tranh Việt Nam 1945-1954 là Bắc Bộ. Nam Bộ đóng vai trò quan trọng với bán đảo Cà Mau, rừng U Minh, Đồng Tháp Mười, chiến khu miền Đông sát ngõ thành phố Sài Gòn. Tại miền Trung hình thành hai vùng căn cứ lớn của Việt Minh với các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên về phía Nam, từ đây các trung đoàn quân chủ lực 108 và 803 là mối đe dọa sát sườn của quân Pháp ở Cao nguyên, và về phía Bắc là rẻo đất hẹp có chiều dài chừng 250 cây số và chiều sâu (từ biển đến núi) nhiều nơi không quá 10 cây số, từ thị xã Đồng Hới vào tới đèo Hải Vân. Tuy nhiên, chặng hiểm hóc và quyết định nhất tại rẻo đất hẹp này - tác giả viết - là một quãng đường tồi tệ trước kia vừa đủ rộng cho hai chiếc xe tải tránh nhau, nay qua nhiều lần bị băm vằm phá hoại và chưa bao giờ được bảo trì, đã trở thành một con đường mòn đủ cho xe bò, xe ngựa đi lại. “Quãng đường tồi tệ” ấy nối liền thị xã Quảng Trị với thị trấn Mỹ Chánh, địa đầu hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên: “Tên thông dụng của nó là Đường Cái quan (la Route mandarine). Tên chính thức của nó là Quốc lộ 1 (Nationale No.1) Nhưng tên đích thực của nó khác. Tất cả các đoàn xe quân sự của Pháp chạy trên quãng đường này đều chịu tổn thất nặng nề, sa vào các ổ phục kích do các chiến binh mặc áo quần đen của Trung đoàn 95 Bộ binh, một đơn vị ưu tú của QĐNDVN đã thâm nhập vào hậu tuyến của quân đội Pháp từ hơn hai năm nay, gây nên. Với cái tính hài hước cười ra nước mắt, binh lính Pháp đặt tên cho quãng đường ấy là Con Đường Không Vui”.  
Làng Hải Thượng nơi tôi chào đời nằm đúng vào “quãng đường tồi tệ” ấy.
 Tháng 07.1953, vẫn theo tường thuật của Bernard Fall, Bộ Tổng Chỉ huy quân đội Pháp quyết định quét sạch vùng đất “tồi tệ” ấy bằng một cuộc hành quân lớn phối hợp bộ binh, pháo binh, thiết giáp, hải quân, tàu đổ bộ từ biển vào, xe lội nước, lính nhảy dù, có không quân yểm trợ... Bốn cánh bộ binh do bốn viên đại tá chỉ huy tấn công từ bốn hướng xuất quân cùng một lúc và thít chặt dần vòng vây. Hải quân áp sát ngoài khơi, từ Cửa Việt (Quảng Trị) đến Cửa Thuận (Thừa Thiên). Lính nhảy dù tập kết tại thành phố Đà Nẵng, sẵn sàng xung trận ngay tức khắc nếu bộ chỉ huy Pháp phát hiện bất kỳ dấu hiệu nhỏ nào cho thấy đối phương tìm cách thoát ra ngoài vòng vây. Lực lượng tung vào cuộc hành quân càn quét này gồm 10 trung đoàn bộ binh, 3 lữ đoàn thiết giáp, 2 tiểu đoàn lính nhảy dù, 1 đoàn xe bọc thép, 4 liên đội pháo binh. Không quân cung cấp 32 máy bay vận tải, 22 máy bay ném bom, 6 máy bay trinh sát. Hải quân góp một hải đoàn tuần tra biển với 12 chiến hạm trong đó có 3 tàu đổ bộ, kiểu L.S.T chở nhiều xe lội nước bọc thép tục danh là Cua và Cá Sấu (*) chở lính thủy đánh bộ cùng trang thiết bị, tất cả đều của Mỹ. Và tác giả, giáo sư chính trị quốc tế Trường Đại học Howard, Washington DC, Hoa Kỳ, vốn là chiến sĩ Pháp chống phát xít từ tuổi 16, cựu chiến binh Sư đoàn Bắc Phi số 2 Quân Giải phóng của tướng De Gaulle trong Thế chiến thứ hai, Huân chương Giải phóng, nhận xét: “Lực lượng được quân đội Pháp tung vào cuộc hành quân càn quét này hoàn toàn không thua kém các cuộc hành quân đổ bộ của các nước Đồng Minh tại Thái Bình Dương hay tại Địa Trung Hải trong Chiến tranh thế giới thứ hai”. Vẫn theo lời tác giả: “Thoạt nhìn, các lực lượng Pháp tung vào cuộc hành quân này thật ấn tượng. Lực lượng đồ sộ gồm xe thiết giáp và xe lội nước được yểm trợ bởi một trăm khẩu đại bác sẵn sàng khạc lửa, làm cho Camargue trở thành cuộc hành quân quy mô lớn chưa từng được bố trí tại Đông Dương. Trong khi lực lượng đối phương chỉ có chưa đến một trung đoàn, quân số không đầy đủ”. Với lực lượng hùng hậu như thế (**), các sĩ quan tham mưu Pháp cầm chắc “Trung đoàn 95 QĐNDVN và các đơn vị du kích phụ trợ chuyến này rất ít có khả năng thoát khỏi tấm lưới bủa vây”.
 Giờ G ngày N cuộc Hành quân Camargue được Bộ Tổng Chỉ huy quân đội Pháp ấn định vào 5 giờ sáng ngày 28.07.1953. Vừa tảng sáng, các đơn vị Hải quân có căn cứ tại Đà Nẵng vốn đã lặng lẽ dàn binh ngoài khơi huyện Hải Lăng từ đêm hôm trước, ra lệnh cho các tàu đổ bộ ra quân. Ngòi bút nhà báo - học giả như cũng không nén được ấn tượng trước quang cảnh 160 chiến xa đồng loạt rẽ sóng ào ạt tiến vào bờ: “Trên mặt nước biển vẫn còn đen xẫm màu chì (bởi bình minh chỉ vừa mới rạng), những chiếc tàu đổ quân đã vạch nên những làn sóng bạc, từ đỉnh các ăng ten cao nhất nghễu, nổi bật lên nền trời đang rạng dần phù hiệu các đơn vị tham chiến...”. Bốn cánh quân trên bộ được lệnh khởi động muộn hơn một ít, để khỏi làm kinh động đối phương. 
 Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, các cánh quân Pháp chưa tập kết xong vào vị trí theo phương án tác chiến, bất thần súng đã nổ. Cuộc đọ sức đã bắt đầu tại làng Đơn Quế, hồi ấy thuộc xã Hải Châu (nay là Hải Quế) ven Tỉnh lộ 68. Theo tác giả, một đại đội lính bộ người Bắc Phi bất thần sa vào ổ phục kích. Súng bắn xối xả từ phía đối phương, nhiều lắm cũng đến ba chục tay súng là cùng. Tên lính Pháp bị quân Việt bắn hạ đầu tiên trong cuộc hành quân Camargue là Abd-El-Kader, lính lê dương người Maroc. Y bị một loạt đạn tiểu liên găm đúng vào ngực. “Một tay lính trẻ Việt Minh có lẽ tại thần kinh căng thẳng quá khi thấy đội quân Pháp ào ào xốc tới sát sườn, không đủ kiên nhẫn chờ cho cả đại đội Pháp sa gọn vào trận địa phục kích như kế hoạch định, đã bóp cò hơi sớm”. Theo phản xạ của những chiến binh thành thục chiến trường, nghe tiếng súng nổ lính lê dương nhất loạt bổ ngoài ra đất và lăn người xuống ruộng lúa hai bên đường, nhờ vậy nhiều tên thoát chết trong gang tấc.
 Cho dù các thông báo quân đội Pháp phát cho báo chí cái nào cũng hết sức lạc quan, tướng Tổng chỉ huy Leblanc dày dạn chiến trường là người tỉnh táo. Ông biết, Trung đoàn 95 của QĐNDVN chỉ cho một vài đơn vị nhỏ phục kích chặn đánh, làm chậm cuộc hành quân của quân Pháp, còn đại bộ phận trung đoàn vẫn án binh bất động đâu đó, chờ đến tối sẽ thoát ra ngoài vòng vây. Vì vậy, không chờ đợi lâu hơn nữa, mới 2 giờ chiều ngày N, ngày đầu tiên ra quân, ông đã ra lệnh tung luôn lính nhảy dù ém tại Đà Nẵng vào cuộc chiến ngay tức khắc...                                                                           
Bìa sách Con đường không vui của học giả - nhà báo  Bernard B.Fall

 Vì khuôn khổ bài báo, chúng tôi không thể điểm lại, dù hết sức sơ lược, bài viết ngồn ngộn chi tiết đắt giá kèm những luận bình dí dỏm của nhà báo - học giả nắm chắc vấn đề, cũng như không thể với tư cách một chứng nhân, bổ sung, điều chỉnh các chi tiết chưa thật chính xác trong bài của tác giả Bernard Fall. Chẳng hạn, không phải “trung đoàn 95 thâm nhập vào hậu tuyến quân Pháp từ hơn hai năm nay” (tức từ 1951), như tác giả nhầm, mà thực tế trung đoàn đã gắn bó với nhân dân địa phương ngay từ khi mặt trận Huế vỡ (1947). Tết Canh Dần 1950, làm phóng viên báo Cứu Quốc, tôi từ chiến khu về xã Hải Châu “ăn Tết” cùng Đại đội 150 Tiểu đoàn 310, đại đội chủ công của Trung đoàn 95 hồi bấy giờ. “...Gần nửa đêm, chúng tôi dậy đón giao thừa. Ngồi dựa sát vào nhau cho đỡ rét, cùng uống ngụm nước chè tàu, nhắm lát mứt gừng đồng bào biếu cho ấm họng mà nói chuyện tâm tình... Sao những ngày giao nối hai năm Sửu và Dần này rét đến thế. Da cứ tê đi, người đét lại, có bao nhiêu áo quần mang ra mặc hết, người cứ như bị bó giò. Đại đội trưởng đi nghiên cứu địa hình nơi sẽ phục kích trận đầu năm về trong đêm khuya, cứ xuýt xoa kêu ngoài trời rét ơi là rét...” (Bài Tết ở Đại đội 150, báo Cứu Quốc LK4). Xin đi luôn vào đoạn kết. Tác giả Bernard Fall viết: Đến chập tối ngày N, khi bốn cánh quân trên bộ và các đơn vị từ biển ập vào, lính dù từ trên trời đổ xuống liên liên lạc được với nhau, theo đánh giá của sĩ quan tham mưu Pháp, “toàn bộ Trung đoàn 95 QĐNDVN đã nằm gọn trong một tấm lưới có chiều dài 14km, rộng 3km...”.
 Tuy nhiên, vậy mà không phải vậy.
 Tác giả ghi nhận: “Những đôi hàm thép của một đạo quân hiện đại, được yểm trợ bởi các lực lượng hải quân, xe tăng lội nước, máy bay chiến đấu... đang thít chặt, hùng hổ xục tìm những người lính nông dân vừa được vũ trang vội vã và huấn luyện cấp tốc bởi những cán bộ không có ai mang quân hàm cao hơn bậc cai trong Đội lính Khố Xanh thời trước, nói gọn lại, đạo quân Pháp được triển khai hôm nay mạnh hơn đối phương ít nhất cả chục lần. Tuy nhiên, trong cái bẫy vừa sập xuống ấy, tuyệt nhiên không tóm được một con mồi nào”.
 Đúng là quân Pháp cũng có bắt được vài chú thiếu niên vừa đủ lớn để có thể nhấc nổi khẩu súng trường, các chú trả lời ấp a ấp úng, không khai được mình là người làng nào ở đây. Vậy đích thị là quân đội chính quy của Việt Minh rồi, cứ coi như quân Pháp vừa bắt được tù binh đi. Ngoài ra, cánh quân có nhiệm vụ càn quét cũng tóm được mấy khẩu súng trường và vài ba nông dân người làng Đơn Quế, nơi đối phương kháng cự mạnh mẽ nhất. Dù sao thì 36 tiếng đồng hồ sau giờ G ngày N, tác giả Bernard Fall nhấn mạnh, “đã hoàn toàn sáng tỏ là cuộc Hành quân Camargue đã thất bại”.
 Báo chí Sài Gòn ca ngợi hết lời. Rằng “cuộc hành quân là một thành công lớn”, “cuộc hành quân chứng tỏ sức chiến đấu và tính cơ động ngày càng tăng của quân Pháp”, rằng “nó cho thấy sự cần thiết và tính hiệu quả đưa các đơn vị xe lội nước và lực lượng cơ giới hùng hậu vào bình định các vùng ruộng lúa và cát lầy”, v.v… và v.v... Trong khi đó, đạo quân viễn chinh Pháp, người trong cuộc, đau xót và khôn ngoan hơn, cho nên dè dặt hơn trong việc khoa trương ngôn từ. Họ lặng lẽ tổng kết bài học thất bại.
 Tại tấm sơ đồ in kèm trong sách, tác giả Bernard Fall vẽ địa hình vùng đất và một mũi tên thật đậm với ghi chú Con Đường Không Vui. Vậy là quãng đường mang cái tên đã đi vào lịch sử chiến tranh ấy, từ mùa hè 1953, sau cuộc Hành quân Camargue, không đơn thuần là “quãng đường tồi tệ” chạy qua làng tôi ven Quốc lộ 1 mà còn có thêm Tỉnh lộ 68, nơi tôi được đồng bào đùm bọc mấy năm sau ngày vỡ mặt trận Huế 1947. Đây là một con đường khiêm tốn, chưa rải đá, khởi đầu từ góc Đông Nam Thành cổ Quảng Trị chạy dọc cánh đồng lúa ven bờ biển vào Nam, vòng lên tiếp nối với Quốc lộ 1 tại thị trấn Diên Sanh (Kẻ Diên), lỵ sở huyện Hải Lăng. Khách bộ hành đến chỗ quặt, có thể đi tiếp theo đường liên xã nhiều đoạn còn lầy lội vào địa phận tỉnh Thừa Thiên, rồi qua các làng Thanh Hương, Thế Chí Đông, Thế Chí Tây...  men phá Tam Giang vào tận cửa Thuận An. Cán bộ, bộ đội chúng tôi hồi ấy rất thông thạo con đường này, bởi phải qua cửa Thuận vào phía Nam thành phố Huế mới có lối đi thuận tiện vượt qua quốc lộ 1 ngược trở lại lên vùng chiến khu tỉnh Thừa Thiên. Vùng đồng bằng các huyện Triệu, Hải, Phong, Quảng, “hậu tuyến của Pháp” nói theo lời Bernard Fall, là hành lang giao thông quan trọng và cũng là hậu cứ của Trung đoàn 95 QĐNDVN. Đó là lý do cắt nghĩa tại sao thực dân Pháp quan tâm càn quét và đế quốc Mỹ mấy năm sau xục lùng tìm diệt ác liệt đến vậy vùng quê nghèo này.
 Điều trớ trêu và tàn bạo của chiến tranh là, chính tại Con Đường Không Vui ven tỉnh lộ 68 này, hơn một chục năm sau cuộc hành quân bủa vây Camargue của Pháp, ngày 21.02.1967 vị giáo sư-nhà báo, người kiên trì phản đối mọi cuộc can thiệp vào Việt Nam, tác giả những cuốn sách như Con Đường Không Vui, Việt Minh, Điện Biên Phủ một góc địa ngục... đã bỏ mình tại trận địa trong chiến dịch tìm diệt mang tên Chinook do quân Mỹ tiến hành.
 Sau ngày giải phóng miền Nam, về thăm quê, tôi đứng bần thần trên “quãng đường tồi tệ”, rồi thả bộ theo “con đường không vui” nay đã an bình đi lần vào Nam tới chợ Kẻ Diên tìm cây đa bến cũ, bùi ngùi nhìn về phía Đường 68, nơi đã cưu mang tôi mấy năm công tác tại vùng địch hậu. Hồi ấy đi lại còn khó khăn, tôi chưa có điều kiện trở lại ngay thực địa đốt một nén hương tưởng nhớ chiến sĩ, đồng bào ta bỏ mình trong cuộc hành quân càn quét mang tên Camargue. Dựa trên cuốn băng thu âm dang dở Giáo sư Bernard Fall để lại, (in tại tập di cảo Last Reflections on a War xuất bản ở New York năm 1967) vẫn có thể hình dung những phút cuối cùng bi tráng của một học giả-nhà báo, “nhà bình luận quốc tế nổi tiếng nhất thế giới về chiến tranh Việt Nam hồi bấy giờ”, nói theo lời tạp chí Time, Mỹ, số ra ngày 03.03.1967. Ái mộ một người nước ngoài dấn thân vì chính nghĩa, tôi dành vài chục dòng trong bài bút ký Kẻ Diên kể lại cái chết của ông. Tiếng mìn nổ bất thần tại Con Đường Không Vui chiều 21.02.1967 cắt ngang cuộc tường thuật phát thanh, dập tắt ngôi sao, đồng thời tạo nên một tiếng bom nổ giữa thủ đô Washington, khuấy động chính giới và dư luận Hoa Kỳ (Báo Nhân Dân ngày 23.08.1981).

Bernard B. Fall ăn vi lính M ti mt trn





























































Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2015

Paracel and Spratly Islands on Charts and Maps made by Westerners

Hoàng Sa và Trường Sa trên Bản đồ Tây Phương
Paracel and Spratly Islands on Charts and Maps made by Westerners
Nguyễn Đại Việt - Trịnh Bảo Ngọc
13.05.2009

Nội dung bài viết này được tóm lược từ tài liệu của Ban Nghiên cứu Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ). 

Đối với thế giới, mãi đến đầu thế kỷ 19, Paracel Islands (Hoàng Sa) và Spratly Islands (Trường Sa) ngày nay vẫn được xem là một giải đảo cát và đá ngầm duy nhất, chạy liên tục trong khoảng từ vĩ độ 16 Bắc đến vĩ độ 12 Bắc, và nằm ngoài khơi vùng biển của vương quốc Cochin China. Các nhà hàng hải Bồ Đào Nha gọi giải đảo này là Ilhas de Pracel, nghĩa là quần đảo Pracel. Bài viết này trình bày một số bản đồ và hải đồ liên quan đến Ilhas de Pracel do các nhà hàng hải tây phương xuất bản trong các thế kỷ 17 và 18. Trong số đó, có một số hải đồ mô tả chi tiết vùng biển Đà Nẳng và vùng biển từ miền Trung Việt đến vịnh Thái Lan, bao gồm quần đảo Pracel. 

Trước khi bước vào phần bản đồ và hải đồ, để tiện theo dõi, một vài chi tiết cần được nêu ra đây. Đầu tiên là sơ lược nguồn gốc tên vương quốc Cochin China, kế đến là lịch sử các tên Pracel và Paracel, và cuối cùng là thời gian khi quần đảo Pracel (hay Paracel) được chia thành hai nhóm đảo Paracel Islands (Hoàng Sa) và Spratly Islands (Trường Sa). 


Tên Cochin China

Tùy theo từng thời kỳ lịch sử của nước Việt, lãnh thổ của quận (hay bộ) Cửu Chân ngày xưa có những biên giới khác nhau. Riêng tỉnh Thanh Hóa ngày nay thì luôn được xem là phần lãnh thổ chính của vùng Cửu Chân. Người Mã Lai Á (Malaysia) phiên âm tên Cửu Chân thành Kuchi. Sau đó, để phân biệt với vùng Kuchi của Ấn Độ (India), các nhà hàng hải và thương nhân Bồ Đào Nha đã thêm vào chữ China, vì vương quốc này nằm cạnh China. Đồng thời họ phiên âm Kuchi China thành Cauchi China. 

Sau người Bồ Đào Nha, các nhà hàng hải và thương nhân từ Hòa Lan (Dutch) và một số nước khác bắt đầu lui tới, giao thương với các quốc gia trong vùng Đông Nam Á.Theo thời gian, Cauchi China lại được phiên âm thành Cochin China. Tên vương quốc Cochin China bắt đầu xuất hiện trên các tài liệu tây phương trong những thập niên đầu của thế kỷ 16. [1]

Tên Pracel và Paracel

Tóm lược lại cuộc khảo sát vùng biển Ba Tây (Brazil) từ đảo Santa Catharia đến Maranlui của Babon Roussin và M. Mouchez thuộc Hải quân Pháp, Albin René Roussin và Ernest Mouchez, năm 1875, đã tường thuật như sau:

“Vùng biển Ba Tây, từ đảo Santa Catharina đến Maranluio, mang một sắc thái riêng biệt đáng chú ý; chẳng hạn nó được vây quanh bởi hai giải đất cao (như hàm răng bằng cồn đá/cát), chạy liên tục suốt chiều dài của chúng ngoại trừ một vài chỗ gián đoạn, và dường như mục đích chúng nằm đó là để bảo vệ vùng đất liền ấy khỏi sự xâm lấn và cơn cuồng nộ của sóng biển vỗ vào bờ liên tục. Một trong các bức rào bảo vệ ấy nằm kề đất liền, là một giải đá, như tạo thành một ranh giới, chủ yếu trãi dài từ mũi Frio đến Maranhao. Còn bờ đê thiên nhiên kia hay thành lũy phòng vệ của vùng bờ biển ấy là một cái bờ, nằm cách đất liền từ 10 km đến 50 km, với độ sâu vừa phải và không đều, mà tiếng bản xứ (Bồ Đào Nha) gọi là Pracel hay Paracel, do các độ sâu không đều và bất thường tạo thành nơi cá cư ngụ. Có thể nói rằng Pracel này, giống như đá ngầm…” [2]

Ngoài ra, một số các tài liệu khác cũng đề cập đến "pracel" với cùng một ý nghĩa tương tự. [3][4][5] "Pracel" không phải là đá ngầm. Đúng ra, loại đá này chỉ là một trong những thành phần cấu tạo nên một loại đảo mang sắc thái riêng biệt gọi là "pracel". Pracel chỉ là một danh từ chung dùng phân loại một loại "quần đảo". Chẳng hạn, trong danh từ "Cù lao Chàm", thì "Chàm" là tên nhưng "cù lao" thì không phải. Ở đây "pracel" đóng vai trò tương tự như "cù lao" trong ví dụ này. Một cách khái quát, định nghĩa về Pracel của thổ dân Bồ Đào Nha ở Ba Tây có thể hiểu như sau:

Pracel hay Paracel là một chuỗi hay giải đảo gồm những mõm đá thấp, đá ngầm, và cồn cát nằm xen lẫn, nối tiếp nhau liên tục trên một chiều dài đáng kể, từ vài chục cho đến hàng trăm cây số. Pracel có độ sâu vừa phải, nông sâu bất thường, là nơi thích hợp cho cá sinh sống nhưng ít thích hợp cho dân cư. Đặc điểm của loại đảo này là thường tạo thành một bờ đê như là một hàng rào thiên nhiên ngăn sóng, bảo vệ vùng duyên hải hay đất liền gần đó. 

Cũng lưu ý rằng, theo Pháp ngữ và Anh ngữ, một trong các định nghĩa của "para" là "sự cản lại", ví dụ như "parachute" (cánh dù) là vật cản gió dùng để nhảy từ trên cao xuống.

Một quan sát về đặc điểm của Pracel trong cuốn Hải Lục Đồ Chí in năm 1842, dưới thời vua Daoguang (1820-1850) của nhà Thanh, được ghi lại như sau: "Vạn Lý Trường Sa là một giải đảo cát dài hàng vạn dặm, nhô khỏi mặt biển, tạo thành một thành lũy ở biên cương của vương quốc An Nam." [6]

Như vậy, với hình thể của một thành lũy thiên nhiên ngoài khơi, nằm dọc theo bờ biển của vương quốc Cochin China, quần đảo đá, cát, và đá ngầm đó được gọi là Pracel (hay Paracel) vì giải đảo này mang các đặc điểm của loại đảo Pracel (hay Paracel) theo thổ ngữ Bồ Đào Nha. Nói một cách khác, Pracel hay Paracel không phải là tên riêng của một nhân vật, một địa danh, một chiếc tầu, hoặc một vật như đá ngầm như đã hiểu sai bấy lâu nay.

Phân chia quần đảo Pracel: Paracel Islands (Hoàng Sa) và Spratly Islands (Trường Sa)

Spratly là họ của một người Anh, thuyền trưởng chiếc tầu săn cá voi Cyrus. Ông tên Richard Spratly, người đã phát hiện hòn đảo này vào năm 1843 [7]. Đối với giới hàng hải tây phương, mãi đến khoảng giừa thế kỷ 19 thì quần đảo Pracel (hay Paracel) nằm trong khoảng từ vĩ độ 12 độ Bắc đến 16 độ Bắc mới chính thức được tách ra thành Paracel Islands (Hoàng Sa) và Spratly Islands (Trường Sa) ngày nay. 

Thật ra ông Richard Spratly không phải là người đầu tiên khám phá ra Spratly Islands. Trước đó khoảng gần 4 thập niên, vào năm 1807, khi được cử sang vương quốc Cochin China để khảo sát quần đảo Pracel (bao gồm Paracel Islands và Spratly Islands), thuyền trưởng Ross đã đến triều kiến vua Gia Long và trình lên vị hoàng đế này một lá thư giới thiệu của công ty Đông Ấn. Nội dung lá thư đương nhiên có liên quan đến việc xin phép khảo sát quần đảo Pracel và bờ biển của nước này. Ông Daniel Ross hoàn tất cuộc khảo sát và đo đạc vùng biển phia Nam của Trung Hoa năm 1807, quần đảo Pracel năm 1808, một phần bờ biển Cochin China năm 1809, và vùng đảo Palawan của Phi Luật Tân năm 1810. [8]

Vị thuyền trưởng ấy đã đặt tên cho Spratly Islands (Trường Sa) ngày nay là Dangerous Ground (Vùng Đất Nguy Hiểm), được xem như phần phía Nam của quần đảo Pracel (hay Paracel) trên bản hải đồ ấn hành năm 1821. Sau đó, trong một phiên bản của tấm hải đồ ấn hành năm 1859, tên Dangerous Ground được đổi lại là Storm Island (Đảo Bảo Tố). Ngày nay, cả hai tên thỉnh thoảng vẫn còn được nhắc đến nhưng không phổ biến như tên Spratly Islands. [9] Như vậy, đối với giới hàng hải tây phương, đến năm 1843, quần đảo Pracel được chính thức tách ra thành Paracel Islands và Spratly Islands.

Riêng ở vương quốc Đại Nam, dưới triều của vua Minh Mạng, vào năm 1838, học giả Phan Huy Chú, một nhân viên của bộ Công đã khảo sát, vẽ, và xuất bản một bản đồ của vương quốc đó, gọi là Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ. Bản đồ này đã phân chia Bãi Cát Vàng, tên của giải đảo nằm ngoài khơi và dọc theo bờ biển miền Trung, thành hai quần đảo riêng biệt gọi là Hoàng Sa (Paracel Islands) và Vạn Lý Trường Sa, mà sau này gọi gọn lại là Trường Sa (Spratly Islands). [10]

Tiếp sau đây là phần trình bày các bản đồ và hải đồ theo thứ tự thời gian. Để xem hình khổ lớn hơn, xin vui lòng bấm vào các hình tương ứng.

Bản đồ Á Châu, 1617 (Chart of Asia and eight city maps [11])

[/URL]http://www.nguyenthaihocfoundation.org/images/lichsuVN/amh-asia-rare-1622.jpg (http://www.nguyenthaihocfoundation.org/images/lichsuVN/amh-asia-rare-1622.jpg)Hải đồ này thuộc tập ‘Hải đồ Á Châu và Bản đồ 8 thành phố” được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1617. Tác giả và nhà phát hành là một nhà vẽ họa đồ, người Hòa Lan (Dutch), tên Williem Jansz Blaeu (1571-1638). Ông Blaeu làm việc cho công ty Đông Ấn (Verenigde Oost-Indische Compagnie, VOC) từ năm 1633. Trên tấm bản đồ Á Châu này thấy vẽ một quốc gia mang tên Cauchin China, được ghi chú bên dưới một cái hồ thật lớn, có lẽ là Động Đình Hồ. Phía Tây là dãy Trường Sơn, phía Đông là bờ biển chạy dài từ vịnh Bắc Việt đến mũi Cà Mau ngày nay. Các quốc gia như Phi Luật Tân, Borneo, Thái Lan (Sian), Campuchia (Cambodia) và đảo Hải Nam của Trung Hoa được vẽ khá chính xác. Riêng Phi Luật Tân thì nằm cao hơn về hướng Bắc so với vĩ độ hiện thời.

Ngoài khơi vùng biển của tỉnh Quảng Nam hiện nay, quần đảo Pracel được minh họa như một hình tam giác cân, có cạnh đáy trên hướng Đông Tây và nằm ở khoảng vĩ độ của Đà Nẳng. Chiều của hai cạnh xoay gần như theo hướng từ Bắc đến Nam, chạy dọc theo bờ biển miền Trung, và gặp nhau ở vùng biển của tỉnh Khánh Hòa. Bờ biển đối diện với quần đảo ấy, tức bờ biển miền Trung Việt ngày nay, thấy có ghi chú bằng tiếng Bồ Đào Nha mấy chữ Costa de Pracel, nghĩa là Bờ biển Pracel. Ngoài ra, có một vài hòn đảo nhỏ nằm gần giải đảo Pracel, thuộc vùng biển Quảng Ngãi và Khánh Hòa ngày nay.

Bản đồ Quảng Đông, 1655 (Map of Quang Dong [12])

http://www.nguyenthaihocfoundation.org/images/lichsuVN/amh-quangdong-1655.jpg (http://www.nguyenthaihocfoundation.org/images/lichsuVN/amh-quangdong-1655.jpg)Do Joan Blaeu (1598-1673) vẽ và xuất bản năm 1655. Các phiên bản sau đó là của Martino Martini (1614-1661) sao lại. Bản đồ này mô tả tỉnh Quảng Đông, vùng biển phía Nam, và Đông Nam của Trung Hoa, bao gồm đảo cả đảo Hải Nam. Phía cực Tây của bản đồ và ở hướng Tây Bắc của Hải Nam, có một khoảng trống hình tam giác với ranh giới mầu vàng, trên đó thấy ghi chú chữ Tungking Continia; có nghĩa là lục địa Tungking, tức là miền Bắc Việt Nam ngày nay. Nằm ở hướng Đông Bắc của đảo Hải Nam, thấy có vẽ một hòn đảo nhưng không ghi chú gì cả. Theo tọa độ, có lẽ đó đảo Pratas. Ngoài ra, tuyệt nhiên không hề thấy đề cập chi tiết nào về quần đảo Pracel hay Paracel. 

Bản đồ Cochin China, 1660 (Map of Cochinchina [13])

http://www.nguyenthaihocfoundation.org/images/lichsuVN/amh-cochichina-1660.jpg (http://www.nguyenthaihocfoundation.org/images/lichsuVN/amh-cochichina-1660.jpg)Hải đồ này thuộc công ty Đông Ấn, được Thư viện Anh (British Library) mua lại năm 1875. Đây là một bản đồ hàng hải trong tập bản đồ của Johannes Vingboons vẽ năm 1660. Điểm đáng chú ý là trên hải đồ không có lãnh thổ, đảo, hay quần đảo của bất kỳ quốc gia nào khác, kể cả đảo Hải Nam của Trung Hoa như thường được vẽ trên một số bản đồ. Điểm đặc biệt là tấm hải đồ chỉ vẽ bờ biển và vùng biển của Cochin China, tức là miền Trung của Việt Nam ngày nay. Ilhas De Pracel trên hải đồ là một giải đảo đá và cát phát xuất từ ngoài khơi vùng biển của Baya Touron, vĩ độ 16 độ 30’ Bắc, chạy dọc theo chiều Bắc Nam và chấm ở vùng biển của Pulo Bambir, vĩ độ 13 độ 30’ Bắc. Tuy các vĩ độ có sai lệch đôi chút so với tọa độ hiện tại, nhưng các địa danh trên đất liền tương ứng với các vĩ độ đó là Đằ Nẳng (vĩ độ 16 độ 04’ Bắc) và Khánh Hòa (vĩ độ 12 độ15’22” Bắc) ngày nay.

Bản đồ từ Ấn Độ đến Nhật Bản, 1662 (Map of India to Japan [14])

http://www.nguyenthaihocfoundation.org/images/lichsuVN/amh-india-japan-1662.jpg (http://www.nguyenthaihocfoundation.org/images/lichsuVN/amh-india-japan-1662.jpg)Do Joan Blaeu, Sr. và Wilhelm Blaeu ấn hành năm 1662. Đây là một hải đồ mô tả hải trình giao thương đi ngang qua biển Đông giữa Nhật và Ấn Độ. Mặc dù bản đồ mô tả một vùng rộng lớn so với kích thước của quần đảo Pracel, nhưng quần đảo này lại được vẽ rất rõ. Sự kiện này chứng tỏ tầm quan trọng rất đáng kể của quần đảo cát và đá ngầm đó đối với giới hàng hải tây phương trong thời gian ấy. Trên bản đồ, giải đảo cát và đá ngầm mang tên El Pracel có hình dạng giống như một lưỡi dao nằm theo chiều Bắc Nam, chạy ôm theo bờ biển của quốc gia Tsiompa, tức là vương quốc Chiêm Thành. Phía Bắc của nước này là vương quốc Cochin China, một phần của Việt Nam ngày nay. Phía Nam và phía Tây là các quốc gia Cambodia và Sian (Thái Lan). Quần đảo Pracel bắt đầu từ ngoài khơi vùng biển phía Bắc của tỉnh Quảng Nam ngày nay và chấm dứt ở vùng biển của Champa, biên giới cực Nam của vương quốc Tsiompa. Champa tức là Khánh Hòa bây giờ. Ngoài ra, nằm sát giải đảo Pracel, trong vùng biển Tsiompa còn có một hòn đảo tên Pulo Cambir.

Bản đồ vịnh Bắc Việt của Cochin China, 1665 (Kaart van de kusten van Tonkin en Cochin-China benoorden de Bokshoorn en het eiland Aynam [15])

http://www.nguyenthaihocfoundation.org/images/lichsuVN/amh-china-tonquin-1665.jpg (http://www.nguyenthaihocfoundation.org/images/lichsuVN/amh-china-tonquin-1665.jpg)Nằm trong Tập Bản Đồ Vingboons do Johannes Vingboons vẽ và xuất bản năm 1665, hải đồ này mô tả bờ biển và vùng biển của Tonkin (vịnh Bắc Việt), Cochin China (miền Trung Việt), và đảo Aynam (Hải Nam) của Trung Hoa. Trên bản đồ, quần đảo Ilha de Pracel có hình lưỡi dao và nằm theo hướng Bắc Nam. Phát xuất từ ngoài khơi phía Bắc vùng biển của Baya Toron (vịnh Đà Nẳng), giải đảo này chạy ôm theo bờ biển của vương quốc Qvinam tức Cochin China, và chấm dứt ở vùng biển phía Nam của Baya Cambir tức vịnh Cam Ranh ngày nay. Ngoài ra, ở hướng Đông của nơi phát xuất quần đảo Pracel, có một cụm đảo hay đá ngầm xếp theo hình tam giác. Có lẽ chúng là Macclesfield Bank hiện nay.


Bản đồ vùng biển Cambodia, Siam, và Cochin China, 1665-1668 (Map of the coasts of Siam, Cambodia and Cochin-China [16])

http://www.nguyenthaihocfoundation.org/images/lichsuVN/amh-cochichina-thai-cambodia-1665-68.jpg (http://www.nguyenthaihocfoundation.org/images/lichsuVN/amh-cochichina-thai-cambodia-1665-68.jpg)Hải đồ này thuộc công ty Đông Ấn, được Thư viện Anh (British Library) mua lại năm 1875. Đây là một bản đồ hàng hải trong tập bản đồ Blaeu-Van der Hem Atlas do Johannes Vingboons vẽ và xuất bản trong khoảng từ 1665 đến 1668. Hải đồ mô tả vùng biển của các vương quốc Cambodia, Siam tức Thái Lan, và Cochin China tức miền Trung nước Việt ngày nay. Ngoài ra, Tsiompa tức vương quốc Chàm, phía Nam của Cochin China, cũng được thấy trên bản đồ. Ngoài các quốc gia trên, không hề thấy lãnh thổ, đảo, hay quần đảo của bất kỳ quốc gia nào khác, kể cả đảo Hải Nam của Trung Hoa.

Trên hải đồ này có vẽ một giải đảo hình lưỡi dao nằm theo hướng Bắc Nam mang tên là Pracels. Quần đảo này bắt nguồn vùng biển phía Bắc, ngoài khơi của Bay Turon (vịnh Đà Nẳng), chạy dọc theo bờ biển của Cochin China và Tsiompa, và chấm dứt ở vùng biển cực Nam của vương quốc này. So với hải đồ Cochin China ở trên, thì quần đảo Pracels trên bản đồ này vượt qua đảo Pulo Cambir de Mar, và kéo dài hơn về phía Nam của tỉnh Khánh Hòa ngày nay.


Bản đồ từ vùng biển Đà Nẳng đến Mekong, 1725-1750 (The coast of Vietnam from Danang to the Mekong delta [17])

http://www.nguyenthaihocfoundation.org/images/lichsuVN/amh-danang-mekong-1725-50.jpg (http://www.nguyenthaihocfoundation.org/images/lichsuVN/amh-danang-mekong-1725-50.jpg)Bản đồ thuộc tài liệu của công ty Đông Ấn, được vẽ trong khoảng thời gian từ 1725 đến 1750. Như tên gọi, tấm hải đồ mô tả vùng biển và hải lộ từ Baay Toron (Đà Nẳng) đến vùng MeKong (Cửu Long). Trên bản đồ, ngoài hai vương quốc Tsiompa (Chàm) và Cochin China (miền Trung Việt Nam), không hề có lãnh thổ hay quần đảo của bất kỳ quốc gia nào khác, kể cả đảo Hải Nam của Trung Hoa. Trên hải đồ, ngoài khơi vùng biển của Baay Toron, có vẽ một quần đảo mang hình lưỡi dao nằm xuôi theo hướng Bắc Nam. Có lẽ vì lý do kỹ thuật khi sao chụp (scanning) làm phần đầu của quần đảo bị che khuất, nên không tìm thấy cái tên Pracel quen thuộc. Giải đảo này chạy dọc theo bờ biển của Cochin China, vượt qua đảo Cambir De Maar (thuộc hải phận Khánh Hòa ngày nay) và chấm dứt ở vùng biển cực Nam (thuộc tỉnh Ninh Thuận ngày nay) của vương quốc Cochin China.

Tham khảo

[1] Henry Yule et al., “Hobson-Jobson a glossary of colloquial Anglo-Indian words and phrases, and of kindred terms, etymological, historical, geographical and discursive”, John Murray, London, 1903.
[2] Albin René Roussin and Ernest Mouchez, “Sailing directions for the coast of Brazil, included between Maranhao and Rio Janeiro”, James Imray and Son, London, 1875.
[3] John Purdy, "The new sailing directory for the Ethiopic or southern Atlantic ocean", R. H. Laurie, London, 1855.
[4] W Ellis et al., "An authentic narrative of a voyage performed by Captain Cook and Captain Clerke in His Majesty's ships Resolution and Discovery, during the years 1776, 1777, 1778, 1779 and 1780; in search of a North-West passage between the continents of Asia and America", p. 328, Vol. 2, 3rd ed., G. Robinson et al., London, 1783.
[5] George McCall Theal et al., "Records of South-Eastern Africa", p. 299, William Clowes and Sons, London, 1898.
[6] Wikipedia, "Paracel Island (http://en.wikipedia.org/wiki/Paracel)s". Bài viết này được biên soạn chủ yếu bởi Trịnh Bảo Ngọc, thành viên của Nguyễn Thái Học Foundation. 
[7] Wikipedia, “Richard Spratly”.
[8][9][10] Wikipedia, “Paracel Islands”. 
[11][12][13][14][15][16][17] Tất cả các bản đồ và hải đồ trên đây được lấy từ trung tâm tài liệu mở Atlas of Mutual Heritage (AMH) của Nationaal Archief. [URL]http://www.nationaalarchief.nl/amh/info.aspx?page=bg&lang=en

Buôn Mê Thuột







bánh khọt - món ngon tại Buôn Mê Thuột



Món Phở cuốn - Quán ăn ngon tại Buôn Ma Thuột






Bùn đỏ đặc sản hấp dẫn của Buôn Ma Thuột 35
Tháp Yang Prong còn gọi là Tháp chàm Rừng xanh là một ngôi tháp Chàm ở xã Ea Rốk, huyện Ea Súp, cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 100 km. Tháp được xây dựng vào cuối thế kỷ 13 để thờ thần Siva - vị thần tượng trưng cho sự nảy nở của giống nòi và ấm no hạnh phúc theo tín ngưỡng của người Chăm. Hiện nay, tháp là một điểm du lịch cuốn hút rất đông du khách quan tâm đến văn hóa Tây Nguyên đến tham quan.


















































Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2015

Khánh Hòa duyệt quy hoạch KĐT cao cấp trên biển Diamond Bay

Mới đây, UBND tỉnh Khánh Hòa đã phê duyệt quy hoạch tổng thể KĐT cao cấp trên biển Diamond Bay thuộc quần thể khu nghỉ dưỡng giải trí Diamond Bay City tại TP. Nha Trang.


[​IMG]
KĐT cao cấp trên biển Diamond Bay nằm trong Khu nghỉ dưỡng giải trí Diamond Bay City

Dự án KĐT cao cấp trên biển Diamond Bay tọa lạc bên vịnh Kim Cương, nằm trên Đại lộ Nguyễn Tất Thành, nối liền sân bay quốc tế Cam Ranh và trung tâm Nha Trang, cách sân bay 20 phút đi xe. Dự án này do Tập đoàn Hoàn Cầu làm chủ đầu tư, có diện tích gần 300 ha.

Trong giai đoạn I, có nhiều hạng mục của dự án đã được hoàn thiện và đưa vào hoạt động, bao gồm sân golf 18 lỗ tiêu chuẩn quốc tế do nhà thiết kế danh tiếng thế giới Dye (Mỹ) thực hiện. Hiện nay, chủ đầu tư đang xây dựng khu Diamond Bay Resort 4 sao với hơn 340 phòng, trung tâm hội nghị quốc tế, sân khấu Hoàn Vũ với hơn 7.500 chỗ trong nhà và các tiện ích giải trí khác.

[​IMG]
Dự án sẽ gồm các khu resort 6 - 7 sao trên biển theo mô bình đảo Cọ (Dubai)

Trong giai đoạn II, dự án bao gồm xây dựng các khu nghỉ dưỡng Diamond Bay Resort 2, các quần thể villas sang trọng nhìn ra sân golf và các khu resort 4-5 sao. Sau khi xây dựng, khu các khu resort sẽ cung cấp 1.100 căn hộ resort và 120 biệt thự golf. Dự kiến, các hạng mục này sẽ được đưa vào khai thác trong quý II/2015.

Công bố quy hoạch Khu nhà ở - công viên - trung tâm hành chính mới tỉnh Khánh Hòa

16/12/2014
Ngày 12/12/2014, Công ty CPĐT Lạc Hồng phối hợp với UBND TP. Nha Trang tổ chức hội nghị công bố đồ án quy hoạch chi tiết 1/500 Khu đô thị - công viên - trung tâm hành chính mới (khu vực 1) của tỉnh Khánh Hòa.
Đồ án Quy hoạch chi tiết 1/500 Khu nhà ở - công viên - trung tâm hành chính mới của tỉnh Khánh Hòa (khu vực 1) do Công ty CPĐT Lạc Hồng thực hiện đã được UBND tỉnh Khánh Hòa phê duyệt tại Quyết định số 2129/QĐ-UBND ngày 15/8/2014.
Khu nhà ở - công viên - trung tâm hành chính mới của tỉnh Khánh Hòa (khu vực 1) được quy hoạch tại xã Phước Đồng (TP. Nha Trang) với quy mô gần 9,2ha, trong đó đất đìa tôm chiếm 99,35%. Theo quy hoạch, khu vực này sẽ chia thành 3 không gian chính gồm: không gian công trình thương mại dịch vụ, không gian cây xanh công viên quảng trường và không gian bố trí các công trình biệt thự kinh doanh. Quy mô dân số khoảng 400 người, quy mô có 81 biệt thự được xây dựng cao tối đa 4 tầng. Quy hoạch sử dụng đất gồm: đất biệt thự kinh doanh 38,04%; đất dịch vụ công cộng 5,08%; đất cây xanh, vườn hoa 23,50%; đất bãi đỗ xe 4,15%; đất dự trữ phát triển 4,08%; đất giao thông 25,14%.
Khu nhà ở - công viên - trung tâm hành chính mới của tỉnh Khánh Hòa (khu vực 1) được quy hoạch thành khu đô thị công viên mới có kiến trúc và quy hoạch hiện đại với môi trường sinh thái bền vững, có hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ. Đây là khu đô thị công viên mang nét đặc trưng của vùng biển Nam Trung bộ phát triển bền vững hài hòa giữa không gian nghỉ dưỡng, công cộng, cây xanh và các dịch vụ gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái.
Khu vực này hình thành sẽ tạo dựng môi trường cảnh quan hấp dẫn, các giải pháp về tổ chức không gian du lịch cũng như tổ chức mạng lưới hạ tầng kỹ thuật thống nhất, gắn kết hài hòa với các khu du lịch lân cận. Không gian đi bộ, không gian cây xanh và không gian mở là các yếu tố nối kết các khu chức năng tạo thành chỉnh thể liên hoàn. Đồng thời, tạo cho khu đô thị - công viên một nét đặc trưng và có đầy đủ tiện ích, hạ tầng của khu đô thị cao cấp, tạo cấu trúc phát triển bền vững, lấy thiên nhiên, cảnh quan làm lõi trung tâm.

Khu căn hộ cao cấp Ocean Front Nha Trang

Dự án khu biệt thự Biển Ocean Front Nha Trang do Công ty TNHH Anh Nguyễn là chủ đầu tư và chủ sở hữu duy nhất.
Tọa lạc tại vòng núi Chụt, phường Vĩnh Nguyên, Nha Trang, Khánh Hòa


Lần đầu tiên ở Việt Nam, một ngọn núi nhỏ ở bờ biển được quy hoạch thành một nơi ở, nghỉ dưỡng như những bậc thang của một rạp hát quay mặt vào vịnh Nha Trang, với cảnh tượng của một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới. Tận dụng tối đa vẻ đẹp địa hình cảnh quan tự nhiên, các kiến trúc sư giầu kinh nghiệm châu Âu đã tạo ra một khu đô thị sinh thái xanh, nơi cho phép mọi vị trí đều có tầm nhìn ra biển.
Hiện trạng dự án: 

Đã hoàn tất công tác giải phóng mặt bằng và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước. Đã đầu tư xong các hạng mục hạ tầng kỹ thuật (bao gồm cầu đường, hệ thống điện, cấp thoát nước và cây xanh…). Đã xây dựng một số Biệt thự và chuyển nhượng.



Khu Biệt thự Biển và Dịch vụ Du lịch Anh Nguyễn – Nha Trang (Anh Nguyễn Ocean Front Villas Project) tọa lạc trên đường Trần Phú (đoạn vòng Núi Chụt), phường Vĩnh Nguyên, tp Nha Trang, Khánh Hòa, thuộc trung tâm của thành phố, một vị trí tuyệt đẹp, độc nhất.



Anh Nguyễn Ocean Front Villas nằm cạnh Khu biệt thự Bảo Đại, Viện Hải Dương học và ngay dưới chân dự án là Cảng du lịch Nha Trang.
Từ Anh Nguyễn Ocean Front Villas đi sân bay Cam Ranh mất 25 phút, đi TP Hồ Chí Minh mất 45 phút, đi Đà Lạt mất 2,5 giờ. 

 Dự án nằm ở vị trí đắc địa “ỷ sơn hướng hải ” lưng tựa vào núi chụt mặt hướng ra vịnh Nha Trang, một trong những vịnh đẹp nhất thế giới. Du khách có thể đi đến một số điểm quan trọng của Thành phố Nha Trang chỉ mất vài phút :
-   Khu biệt thự Bảo Đại      :  0,5 km
-   Cảng Nha Trang         :  0,5 km
-   Trung tâm Thành phố     :  6 km



Dự án còn đối diện với các đảo, thắng cảnh nổi tiếng của Nha Trang như Hòn Tre, Thủy Cung, Hòn Mun, Hòn Tằm, Hòn Yến… với thời gian khoảng 15-20 phút.

Tổng diện tích đất của Anh Nguyễn Ocean Front Villas là 118.897,20 m2, gồm: 
- Diện tích đất thương mại:     49.147,70m2.
- Diện tích đất hạ tầng:     69.749,50m2.

Bao gồm các hạng mục sau:
1.    Biệt thự biển: 74 lô;
2.    Khách sạn;
3.    Căn hộ cao cấp;
4.    Câu lạc bộ Nghệ sĩ (CLB a.Q);
5.    Nhà triển lãm (Cung âm nhạc);
6.    Hệ thống hạ tầng kỹ thuật, cây xanh cảnh quan đồng bộ. 
Một số hình ảnh minh họa: