Nghệ thuật thư pháp tiếng Việt có từ bao giờ ?
Thư pháp chữ Việt, hay chữ quốc ngữ Việt viết lối thư pháp, là một phân môn nghệ thuật xuất hiện ở Việt Nam từ thập niên 1950 - 1960. Những người đam mê và theo đuổi học tập, nghiên cứu phân môn nghệ thuật này tôn ông Đông Hồ Lâm Tấn Phát làm "Ông tổ" của Thư pháp chữ Việt. Ông sinh ngày 15 tháng 2 năm Bính Ngọ 1906, tại làng Mỹ Đức tỉnh Hà Tiên. Đông Hồ là một người có bàn tay tài hoa, vốn yêu thích viết chữ đẹp và nghệ thuật thư pháp, nhưng lại không rành tiếng Hán cho mấy nên ông là người đầu tiên có ý tưởng dùng cọ lông và mực Tầu viết chữ quốc ngữ. Vì thế ông được tôn là tổ sư của bộ môn Việt thư (thư pháp chữ Việt). Ông mất ngay khi đang đọc thơ trên bục giảng vào ngày 25/03/1969 nhằm năm Kỷ Dậu
Tên thật Lâm Tấn Phác, tự Trác Chi, hiệu Đông Hồ và Hòa Bích; bút hiệu khác:Thủy Cổ Nguyệt, Đại Ẩn Am,Nhị Liễu Tiên Sinh. * Sinh ngày 10 tháng 3 năm 1906 tại Mỹ Đức, Hà Tiên, Kiên Giang. *Năm 1965: ông dạy ở Đại học Văn khoa Sài Gòn. * Ông mất ngày 25 tháng 3 năm 1969 tại Saigon.
Mỗi người trong chúng ta có nét chữ không giống nhau. Qua nét chữ, có thể đoán được tính cách của mỗi con người. Nên khi thể hiện chữ viết cũng cần sự tập trung để mỗi câu chữ là một lời tâm sự, sự trải lòng mình. Người viết chữ đẹp bao giờ cũng được chú ý hơn cả vì đó là sự trật tự, ngăn nắp. Từ chỗ trật tự đó người viết chữ đẹp siêng năng rèn luyện, trau dồi để nâng vẻ đẹp vốn có của ngôn ngữ tiếng Việt lên một tầm cao mới thông qua cách thể hiện chữ viết. Lúc này đây, thông điệp của câu chữ không chỉ mang một chức năng thông thường là truyền tải thông tin hữu hiệu, mà còn toát lên vẻ đẹp có thần. Người ta gọi đó là nghệ thuật thư pháp. Đây là cách gọi phụ thuộc vào mỗi người. Nhưng với những ai am hiểu về loại hình nghệ thuật này thì gọi một cách gần gũi, dân dã nhất đó là nghệ thuật viết chữ đẹp. Vậy nghệ thuật thư pháp nói chung và nghệ thuật thư pháp tiếng Việt nói riêng là gì và ra đời từ bao giờ, chắc chắn điều này vẫn có nhiều người còn chưa rõ. Trong phạm vi hiểu biết của mình, người viết bài này không đi sâu vào nguồn gốc của thư pháp chữ Hán, mà chỉ đề cập nghệ thuật viết chữ đẹp ở chữ quốc ngữ, hay người ta vẫn gọi như trên là nghệ thuật thư pháp tiếng Việt.
Có thể hiểu “thư pháp” là cách viết chữ. Vậy nghệ thuật thư pháp là nghệ thuật viết chữ, hay nói khác đi là nghệ thuật thể hiện chữ viết. Mỗi nét chữ trong thư pháp bao giờ cũng chứa đựng hai vẻ đẹp : vẻ đẹp thẩm mỹ (bên ngoài) và vẻ đẹp tiềm ẩn (bên trong). Vẻ đẹp thẩm mỹ cuốn hút ngay từ phút đầu thưởng ngoạn, đơn giản vì đó là chữ đẹp. Song bên trong nó là sự trải lòng mình ra với thế giới bên ngoài; là sự tài tình trong cách sắp xếp; là nét phóng khoáng của người cầm bút. Sự sáng tạo nghệ thuật đều không chỉ là thẩm mỹ mà còn là bộ phận tạo thành của văn hóa. Cảng thị Hội An xưa là nơi buôn bán quan trọng của xứ Đàng Trong, chính nơi đây ngôn ngữ bản địa đã được La tinh hóa để dễ dàng trong việc truyền đạo. Và hẳn nhiên Hội An vinh dự là cái nôi của chữ quốc ngữ. Trong những nước có cùng dùng chung chữ La tinh thì chỉ có Việt Nam là nước đầu tiên có nghệ thuật thư pháp. Điều đó cũng đáng tự hào. Song sự phát triển của nó còn phụ thuộc vào yếu tố tinh thần, trí tuệ và sự phát triển của quốc gia đó. Người Việt Nam trí tuệ và sâu sắc, cảnh vật thanh bình, mỗi làng quê là một bức tranh nhiều màu sắc. Chính cảnh vật ấy làm lay động lòng người. Qua bàn tay tài hoa và cái đầu của người nghệ sĩ, từng nét cọ hiện ra đầy mê hoặc.
Khởi động cho phong trào này là nhà thư pháp Nam Giang, tức Lương Quang Huyễn sinh năm 1930 tại Quế Sơn. Gần 50 năm làm thơ và chơi thư pháp, tuy lặng lẽ và rất dè dặt, nhưng chính cuộc sống giản dị đã giúp ông thành công trong thú chơi tao nhã này. Những tác phẩm đẹp của ông đều có trong tay của những nhà sưu tập thư pháp. Nhắc đến Nam Giang, không thể không nhắc đến Vũ Hối, ông sinh tại Quảng Nam, tốt nghiệp Mỹ thuật Đông Dương và được giải hội họa quốc tế. Đây cũng là minh chứng ít nhiều đủ để can thiệp tới những ý kiến đã được các báo đăng tải gần đây. Bởi lẽ, với chủ ý của một họa sĩ am hiểu nghệ thuật như Vũ Hối (người sáng lập trường phái “Luân vũ họa” và “Thư họa” ), thì không thể cho rằng thư pháp tiếng Việt là một hình thức “bôi bẩn” chữ quốc ngữ được.
Cũng như nhiều bộ môn nghệ thuật khác, những người đến với nghệ thuật này phải hội đủ những yếu tố: năng khiếu thẩm mỹ, nguồn cảm hứng và siêng học hỏi. Để có một bức thư pháp đến độ xuất thần thì phải nhiều thời gian và khổ công rèn luyện. Đầu tiên là thế ngồi, cách cầm bút, mực, giấy, và hơn hết là cái tâm trong sáng. Nghệ thuật thư pháp là nghệ thuật có tính thẩm mỹ cao ngay trong ngữ nghĩa câu chữ, nên bố cục trong thể hiện cũng không thể tách rời. Bố cục phải chặt chẽ và cân đối. Bằng cách sắp xếp tài tình về bố cục thì đem lại sự hài hòa trong toàn bức thư pháp. Ngoài ra sự hiểu biết về ngữ nghĩa cũng rất quan trọng cốt tìm ra sự liên kết nhằm tránh tình trạng ngắt cẩu thả, tùy tiện gây phản cảm. Nếu thành công thì bức thư pháp hoàn chỉnh sẽ gây cho người thưởng lãm cảm giác dễ chịu và gần gũi. Trước đây, những người viết thư pháp tiếng Việt quá lạm dụng sự bay bướm làm rối rắm câu chữ, một số người vận dụng cả nghệ thuật thư họa Trung Hoa vào đây là không đúng. Vì nghệ thuật thư pháp chữ Hán và chữ Việt với nghệ thuật thư họa là hai hình thức hoàn toàn trái ngược nhau. Tuy nhiên, có thực tế là người thưởng lãm chưa thực sự sẵn sàng khi đối diện với một loại hình nghệ thuật mới phát triển thời gian gần đây, mà chủ yếu chơi theo phong trào. Thị hiếu phát triển một cách vô thức không có sự chọn lọc của một số đối tượng đã gây nên cái nhìn không thiện cảm và làm méo mó đi cái thú chơi tao nhã này.
Cuộc sống hằng ngày có bao trò tiêu khiển; có thú vui tao nhã như chơi non bộ, cây cảnh, chim cảnh, thư pháp... Chính những thú vui đó giúp con người tĩnh lặng đến lạ thường sau một ngày lao động vất vả. Vì thế, thư pháp tiếng Việt ra đời muộn nhưng phát triển và có chỗ đứng trong lòng người thưởng lãm. Ở đó có sự kết hợp giữa nghệ thuật thể hiện bố cục chữ viết và trạng thái con người thanh tịnh không xao động. Do đó, thư pháp vừa là thú tiêu khiển lại vừa mang yếu tố giáo dục trong đời sống xã hội.
Đông Hồ là một trong những vị tiền bối có công đầu khai phá cho bộ môn thư pháp Việt. Theo tôi được biết, nhà thư pháp Trụ Vũ trước đây ông học viết thư pháp Hán nhưng nhờ duyên may được gặp gỡ cụ Đông Hồ và đem lòng yêu mến nét chữ, muốn thể hiện cái hồn của thư pháp Hán bằng chữ Quốc ngữ nên sau nhiều năm mài mò Trụ Vũ đã trở thành một cái tên khá nổi tiếng trong làng thư pháp Việt.
Ngoài ra ta còn ghi nhận được một vị khác tên là Tăng Hưng, ông là một nhiếp ảnh gia, tuy không phải là một tên tuổi lớn được biết đến trong bộ môn thư pháp Việt, nhưng ông là học trò ruột và được đích thân cụ Đông Hồ chỉ dạy cho các viết thư pháp Việt, cho nên ông có một nét chữ hao hao giống cụ Đông Hồ. Tăng Hưng từng có nhiều cuộc triển lãm kết hợp giữa thư pháp Việt với những tác phẩm nhiếp ảnh do chính ông sáng tác.
Gần đây là kiến trúc sư Nguyễn Thanh Sơn, do nhiều lần đến thăm và gặp gỡ nhà thư pháp Trụ Vũ, ông cũng đem lòng yêu mến đối với lối thư pháp đặc biệt này. Cũng từ nhà thư pháp Thanh Sơn mà phong trào thư pháp Việt trở nên phổ biến rộng rãi trong quần chúng mà ngày nay nhiều nhà thư pháp thế hệ sau ảnh hưởng không ít từ ông.
Tuy khi cụ Đông Hồ ra đi, ngoài những tác phẩm thư pháp mà ông để lại, có thể chưa hòan chỉ mỹ mãn về một khía cạnh nào đó và cũng như không thấy một lý luận, một nghiên cứu nào về thư pháp Việt của cụ. Nhưng ta ghi nhận được những công lao đóng góp, một sự đam mê và hoài bão lớn về lối chơi chữ nghệ thuật đặc biệt này. Có thể khi sinh thời cụ Đông Hồ viết thư pháp Việt như một sở thích, một thú chơi tao nhã và là một hình thức để ông truyền bá thơ văn và chữ Quốc ngữ thông qua nghệ thuật thư pháp. Nhưng những viên gạch đầu tiên ông đặt cho chúng ta, vô hình chung đã trở thành một bộ môn nghệ thuật được nhiều người yêu thích đến ngày hôm nay. Vốn có truyền thống “uống nước nhớ nguồn” nhiều người trong giới thư pháp đã cảm kích và xem ông như một vị “Tổ”của bộ môn để tôn thờ.
Tưởng nhớ đến công ơn của cụ, một số người chọn ngày sinh của ông là ngày 16/02 hàng năm làm ngày họp mặt tri ân đến cụ Đông Hồ. Ngày này cũng nhằm vào mùa xuân, mùa của những hoa mai hoa đào nở rộ phản phất bên những chiếc chiếu hoa của những ông đồ cho chữ. Nên chăng chúng ta chính thức công nhận một ngày giỗ “Tổ” để những người yêu thư pháp bốn phương tụ họp về một nơi, trước là để tưởng nhớ đếng công lao của các bậc tiền nhân khai phá cho bộ môn thư pháp Việt, sau là để anh em trong giới có dịp gặp nhau sau một năm họat động và có thể gặp gỡ, giao lưu, chia sẻ cho nhau những buồn vui cũng như tìm ra một hướng đi tích cực hơn cho bộ mộn nghệ thuật thư pháp Việt?
Thư pháp Việt: từ quá khứ đến hiện tại
Nghệ thuật thư pháp là một nét văn hóa độc đáo của nền văn hóa Á Đông. Thư pháp là một môn nghệ thuật xuất phát từ Trung Hoa và đã được các nước Nhật, Triều Tiên, Việt Nam âm thầm chấp nhận và lặng lẽ duy trì.
Đây là nghệ thuật dùng bút lông viết chữ. Chữ viết ra phải có sức biểu cảm sâu xa. Nội dung và hình thức của một bức thư pháp kết hợp hài hòa trong những chữ viết, mạnh mẽ mà uyển chuyển, rắn rỏi mà bay bổng. Từ lâu, nghệ thuật thư pháp được nhân dân ta xem như một thú chơi tao nhã.
Ðối với người phương Ðông, nói đến môn Thư pháp, người ta thường nghĩ đến cách viết chữ Hán với phong cách đặc biệt... Với cây bút lông, mực và giấy người Trung Hoa đã đưa nghệ thuật viết chữ vươn đến đỉnh cao với lý thuyết phong phú, mang tính triết học, thiền học.
Ở Trung Hoa - thời Hán, từ khi phát minh ra bút lông thì chữ Hán được viết trong một cấu trúc có quy luật gọi là Thư Thể gồm: Triệt Thư, Lệ Thư, Khải Thư, Hành Thư và Thảo Thư.
Ở Nhật ngày xưa gọi môn nghệ thuật này là Thư Đạo (như Trà Đạo, Kiếm Đạo, Võ Đạo, Thiền Đạo…). Bất cứ môn "Chơi" nào nếu được chăm chú nghiên cứu cho đến tận cùng để ngộ đến hư vô đều là Đạo cả. Thư Đạo là lối viết tự nhiên không gượng ép, là cái tự nhiên của trời đất, của thiên nhiên như Lão Tử đã viết: "Đạo pháp tự nhiên" (Đạo bắt chước tự nhiên). Những nét bút trên trang giấy như rồng bay, phượng múa, như gió thoảng mây bay; lúc im lìm lắng đọng, lại có khi cuồng phong bão tố, đó là cái tự nhiên của đất trời và cũng là cái Đạo vô cùng thể hiện trong nghệ thuật thư pháp.
Từ ngàn xưa, các Đạo sư, Thiền sư đã dùng thư pháp làm phương tiện truyền đạt những cao thâm của Đạo. Bất cứ Đạo nào học ở phương Đông cũng đều là Đạo sống, nghĩa là tri hành hợp nhất. Thư Đạo là vừa tri vừa hành, vừa cảm vừa ứng. Ngọn bút lông, ý đạo, lời thơ với tâm thiền đưa ta đến sự giải thoát. Trong một bức thư họa, vạn sự, vạn vật qua bốn giai đoạn: thành, thịnh, suy, hủy được thoáng diễn qua một vài nét bút tài hoa.
Nhà thư pháp không những phải thông hiểu về luật thiên nhiên mà cần phải điêu luyện nét bút căn bản, đầy đặn, mạnh mẽ như: điểm, hoành, nét ngang, nét sổ, nét nhất lên, nét phẩy xuống… Tâm, ý thân vừa hằng vừa chuyển, vừa bất di vừa biến dịch trong nghệ thuật thượng thừa của Thư Đạo.
Văn chương, nghệ thuật của Thư Đạo cô đọng trong tranh thư họa với sự lặng thinh, nhưng là một thứ lặng thinh hùng biện và khêu gợi để người xem phải vận dụng công phu suy nghĩ, im lặng để mà lắng nghe tiếng dội ở nơi sâu thẳm của lòng mình. Người xem phải "đắc ý vong ngôn" thì mới có thể thưởng thức được những nghệ thuật siêu đẳng thuần túy của Thư Đạo. Điều quan trọng đối với Thư họa là cốt tìm nắm lấy cái căn bản của thiên nhiên, tức là cái hư vô, cái vô cùng vô ẩn trong từng sự vật hữu hạn. Hư không trong thư họa được tượng trưng bằng những nét bút mạnh và thẳng, dường như chỉ phớt nhẹ trên mặt giấy và cảm thấy như nó bay đi vùn vụt, mất dạng trên không trung. Nét nào đã phóng ra không bao giờ đồ lại, nét đồ là nét chết. Nét bút thư họa vừa táo bạo vừa nhẹ nhàng thường gọi là Thần bút. Nhà thư họa chỉ dùng có một màu đen, khi đậm, khi nhạt, hòa với nước lã vẽ trên nền giấy, lụa trắng làm nổi bật lẫn nhau để biểu trưng cho sự gắn bó của âm dương. Muốn nắm lấy cái hư không tuyệt đối, nhà thư pháp phải phá các hình thức hữu danh để tạo những hình thức mỹ thuật vô danh, một lối cấu tạo tự do, không lề lối nhất định gì cả. Thay vì vẽ một cái cây, nhà thư họa chỉ vẽ một đoạn thân cây, không gốc, không ngọn. Hình thức gây nhiều mỹ cảm nhất là những hình thức bất toàn và trống không, những hình thức không hình thức rõ ràng. Chính sự cực kỳ giản đơn mới biểu trưng khái quát được hư không, cái vô cùng vô tận của vũ trụ.
Giá trị mỹ thuật thượng thặng của Thư Đạo bao giờ cũng ở sức khêu gợi của nó. Sự bất chấp luật viễn thị trong thư họa, dùng nguyên tắc không nguyên tắc, chú trọng đến thần khí của câu thơ, nét bút; cái màu mà không màu của màu trắng, đen, đậm nhạt của thủy mạc, đó là những đặc điểm của thư đạo, có công dụng siêu thoát không gian để được cận với hư không mới gợi được cái cảm giác vô cùng của Đạo.
Được như vậy, thư pháp, thư họa không còn là môn nghệ thuật tầm thường mà là một chính pháp, một Đạo thư, một Đạo trong nghệ thuật thư họa.
Dưới lăng kính của thiền quán người ta thấy rõ nét chữ đã thể hiện nét người, nhìn một bức thư pháp chúng ta có thể đoán biết tâm trạng, tính tình của tác giả đang ở trong trạng thái nào. Khi nhà thư pháp phóng bút trong tình trạng "Tâm Bút hợp nhất", người thưởng ngoạn sẽ nhận ra ngay, người ta sẽ thấy một sức sống kỳ diệu, sự trong sáng thanh thoát trong từng nét bút.
Rèn luyện thư pháp chính là rèn luyện nhân cách vì vậy các nhà thư pháp thường sống ẩn cư, phong thái của nhà thư pháp thì khoan thai từ tốn, khi chấp bút một cách tự nhiên nhẹ nhàng, thư pháp càng đơn giản thì cơ hội "đạt" càng cao. Sự luyện tập nội tâm được kết tinh trong từng nét bút. (Danh từ chuyên môn trong thư pháp gọi là "Mạc khí" hay dấu mực). Nhà thư pháp thực hiện mỗi nét chữ như đang đối diện với những giây phút quan trọng nhất, nói một cách khác thư pháp là một sự nối dài cá tính và năng lực nội tâm của người sáng tạo.
Qua ngọn bút lông người ta có thể thực tập Thiền, tương tự như mân chuỗi hạt để theo dõi câu niệm Phật. Nhà thư pháp thực tập chuyên cần đến một lúc cái "tâm không" sẽ tuôn trào qua ngọn bút. Đây là một sự khác biệt với những nhà viết chữ theo lối thủ công, họ chỉ biết rèn luyện ngòi bút làm sao viết cho có mỹ thuật, kỹ năng có được của họ là do sự tập luyện nhuần nhuyễn. Trong khi đó phần linh hồn của tác phẩm được phát ra từ sự chuyển hóa tâm thức nhà thư pháp. Tính độc đáo trong tác phẩm của họ là nhờ vào kinh nghiệm Thiền Quán.
Những nhà thư pháp khi phóng bút tâm phải tĩnh lặng, giải trừ mọi chấp trước, ung dung tự tại. Không có những chuẩn bị như vậy, thì không thể hướng tâm mình vào việc sáng tạo. Trong trạng thái chín muồi của tâm thức hòa hợp với kỹ năng sẵn có, nhà thư pháp cảm thấy nhẹ nhàng trong khi thực hiện công trình.
Ðối với người phương Ðông, nói đến môn Thư pháp, người ta thường nghĩ đến cách viết chữ Hán với phong cách đặc biệt... Với cây bút lông, mực và giấy người Trung Hoa đã đưa nghệ thuật viết chữ vươn lên đỉnh cao với lý thuyết phong phú, mang tính triết học, thiền học.
Theo các bậc khoa giáp thời xưa, việc chọn một câu văn một bài thơ để viết lên trang giấy là việc cần hết sức cẩn trọng. Vì ngoài việc thể hiện nét bút tài hoa, năng khiếu viết chữ, nội dung một bức thư pháp còn cho thấy tư tưởng, kiến thức, tâm hồn của người viết. Khi cầm bút, ngoài thể hiện những đường nét rồng bay phượng múa, các thư pháp gia còn phải "nhiếp tâm" với những gì mình sắp sửa viết ra. Có thể gọi thư pháp là tranh chữ, nhưng nó lại mang sắc thái đặc biệt của con người sáng tạo nên bức tranh mà không được tự do bay lượn như các họa sĩ khi tung những nét vẽ lên trang giấy. Người vẽ tranh thư pháp, trước hết phải có một tâm hồn thanh tịnh “như làn nước hồ thu”. Vì sao phải như vậy? Bởi chẳng có bức tranh thư pháp nào có thể ra đời khi lòng người đang rối ren, bấn loạn vì những cơm áo đời thường vương vấn.
Riêng Việt Nam, thư pháp được chia làm hai phần: Thư pháp chữ Hán và thư pháp chữ Việt (viết theo mẫu tự La-tinh)
Thư pháp chữ Hán của Việt Nam có tự bao giờ? Mãi đến nay chưa có ai xác quyết rõ ràng. Tuy nhiên qua những tài liệu về văn học, những cổ vật được tìm thấy như các bia đá, lệnh chỉ, sắc phong, những bức hoành phi, những bi ký, câu đối, những áng văn được viết trên lụa, gấm, giấy xuyên chỉ, hoặc được khắc trên đá, trên gỗ ... cho thấy thư pháp bằng chữ Hán của Việt Nam đã có hàng nghìn năm.
Qua những di tích lịch sử, ông cha của chúng ta đã thể hiện thư pháp một cách sống động. Trong những chữ bằng Hán tự người ta tìm thấy những nét thẩm mỹ, tìm ẩn trong đó một đạo lý, một lối sống kiên cường bất khuất của người quân tử. Đồng thời chứa đựng một triết lý đầy tính chất nhân bản.
Viết được thư pháp là cả một kỳ công. Người Trung Quốc xưa viết bằng bút lông, mực tàu, trên giấy lụa. Với người Việt Nam quen chơi thư pháp, những nguyên tắc đó cũng không thể nào thay đổi.
Người viết thư pháp quan trọng nhất cây bút. Để biết cầm bút đúng cách viết thư pháp, người giỏi phải mất một năm, người kém mà có tâm theo đuổi cũng phải kiên trì 3 năm chỉ chuyên tập cầm bút. Bút viết thư pháp phải là bút lông, nhất thiết không có bút gì khác.
Mực viết thư pháp cũng phải là mực xạ. Loại mực này hiện nay không nhiều và khá đắt, thế nhưng người ta không thể thay thế loại mực khác. Mực xạ đi với giấy dó là loại giấy cổ truyền ở Việt nam. Những năm trước đây, nghề làm giấy dó gần như thất truyền, nay đã và đang được khôi phục lại ở một số làng nghề miền Bắc. Giấy dó làm ra cũng chỉ để phục vụ một số công việc như viết tranh thư pháp, viết câu đối, vẽ tranh cổ… nên giá giấy khá đắt. Loại giấy dó thấm chữ rất nhanh, người viết thư pháp hay vẽ trên giấy này nếu không có trước ý tưởng trước mà cứ họa lên giấy thì tác phẩm 10 phần độ 9 phần bị hư. Bút lông thấm mực tàu sẽ tạo nên những nét đậm nhạt khác nhau, nhưng cái đậm nhạt lúc ấy không phải là ở tay viết mà phải ở cái tâm của người viết.
Người ta nói rằng con chữ, nhất là chữ thư pháp, thường gắn với cuộc đời của người viết ra nó. Không có quy tắc cho người chơi thư pháp, nhưng có một nguyên tắc là chữ tâm phải sáng và tâm hồn phải thanh thản, vì vậy mà hầu hết những người chơi thư pháp đều biết Thiền- một cách tĩnh tâm. Ngoài ra thư pháp là lối chơi dành cho người cao tuổi, có đời sống nội tâm phong phú, thích hòa mình với cây cỏ, thiên nhiên. Đến với thư pháp là đến với thiên nhiên với muôn vàn hình thái, từ những cành cây đang vươn lên đón nắng xuân, đến những cảnh se lạnh khiến cỏ cây đìu hiu trong giá rét, từ hình ảnh chuyển động của muôn loài động vật với vũ điệu thiên biến vạn hóa đến sự chuyển động âm thầm trong thớ thịt đường gân của thế giới sinh vật… Để có một bức thư pháp đẹp và có hồn, ngoài cách trình bày sao cho thẩm mỹ, các nhà thư pháp đã phải trải qua một thời gian khổ luyện. Nếu đem so sánh một thư pháp gia với một kiếm gia cũng không có gì quá đáng. Nhà thư pháp mỗi khi chấp bút, khí bút phải vận hành một cách tự nhiên. Hơi thở sinh động và luân chuyển trong trạng thái nhiếp tâm. Nhìn một nhà thư pháp hạ bút cũng giống như một kiếm gia múa một đường gươm.
Những nhà thư pháp nổi tiếng khi chỉ dạy cho đệ tử thường nói: "Viết một cách chủ tâm mà không tác ý." Để hướng dẫn cho lối viết như thế, các vị thầy bảo: "Cẩn thận chấm bút vào mực, cân nhắc cho vừa đủ, khi nâng ngọn bút lên trong một tư thế phải nhẹ nhàng, xoay một vòng nhẹ trong không trung trước khi hạ bút xuống trang giấy. Để ngòi bút nhẹ xuống giấy tựa như cánh hoa đang rơi trên mặt hồ. Khi kéo ngọn bút qua trang giấy phải tập trung nội lực cũng giống như một tảng đá nặng được treo bằng một sợi dây rất nhỏ có thể rơi bất cứ lúc nào cũng không biết Như vậy mỗi nét chữ mới có xung lực của sự sống."
Đây chỉ là phần kỹ thuật, riêng phần nội tâm các nhà thư pháp thường để hết tâm hồn của mình trên những chữ sắp viết, thường là một câu thơ, một danh ngôn, một câu đối, cũng có thể là một chữ duy nhất..v.v.. Tập trung toàn thể tâm ý vào câu đó, đều hòa khí lực sao cho tâm cảnh hợp nhất, lúc đó ngọn bút sẽ linh hoạt, bay lượn, phiêu bồng. Thời khắc nầy các nhà thư pháp thường gọi là "Xuất thần" hay "Tâm bút hợp nhất". Đây chính là phần hồn mà các nhà thư pháp đã gởi gắm vào những nét bút.
Với người chơi và thưởng ngoạn thư pháp, gần như đó là đòi hỏi để có thể hiểu được nó. Trải qua mấy nghìn năm văn học, lúc đầu dùng Hán tự sau chuyển qua chữ Nôm và gần đây chúng ta dùng chữ Việt. Mẫu chữ Việt chúng ta đang dùng là do các giáo sĩ Tây phương truyền đạo Thiên chúa đem vào. Ngoài những mẫu tự La-tinh chữ Việt còn những dấu sắc (/), dấu huyền (\), dấu nặng (.), dấu hỏi (?), dấu ngã (~), và các dấu móc như: ă, â, ê, ô, ơ, ư. Theo những nhà ngôn ngữ học phân tách chữ Việt của chúng ta có hình thức tượng thanh, khác với Hán tự có tính cách tương hình.
Năm 1915 vua Duy Tân ra chỉ dụ bãi bỏ các khoa thi (Hương - Hội - Đình) ở Nam Kỳ. Năm 1918 vua Khải Định ra chỉ dụ bãi bỏ các khoa thi này ở Trung Kỳ và đến năm 1919 bãi bỏ hoàn toàn các trường dạy chữ Hán, đoạn tuyện hoàn toàn bằng khoa thi cuối cùng tại trường thi Nam Định, thay thế bằng hệ thống trường Pháp - Việt. Năm 1920, chính quyền thực dân Pháp ra lệnh cấm dùng chữ Nôm. 18.9.1924, toàn quyền Đông Dương Merlin ký quyết định đưa chữ Quốc ngữ (Chữ Việt) vào dạy ở ba năm đầu cấp tiểu học. Đó chính là giai đoạn mà cha ông ta chúng ta đã từng vẫn sử dụng bút lông để viết Quốc ngữ mới du nhập như một trò tiêu khiển. Đến những năm 30 thì xuất hiện một vài nhân vật có ý thức thể hiện những câu thơ, lời hay của những bậc tiền nhân hoặc của chính mình thành như một bức Chữ mang tính nghệ thuật. Tiêu biểu đó là nhà thơ Đông Hồ mà ngày nay đa số tác gia Thư pháp Việt vẫn tôn vinh là ông tổ của phân môn nghệ thuật này.
Vào những năm đầu của thời hậu thế chiến khi chữ Việt đã hoàn chỉnh và ngòi bút sắt đã hoàn toàn ngự trị trên thị trường chữ nghĩa. Người ta không còn thiết tha với ngọn bút lông. Giữa lúc đó có một ít người nghĩ ra cách dùng bút lông để viết chữ Việt dưới hình thức thư pháp. Những thư pháp chữ Việt đầu tiên được thể hiện rõ nét nhất ở những nghệ nhân tài hoa, mặc dù việc làm của họ có tính cách tài tử và không được quảng cáo rộng rãi.
Trong thời điểm đó, điển hình qua thư pháp gia Nam Giang tên thật là Lương Quang Huyễn sinh năm 1930 (tuổi Canh Ngọ) tại Quế Sơn Quảng Nam. Cùng thời với Nam Giang có nhà thư họa Vũ Hối, ông sinh năm 1931 quê tại Quảng Nam Đà Nẵng. Hiện đang cư ngụ tại Hoa Kỳ. Ngoài Nam Giang Vũ Hối là những người đi tiên phong trong bộ môn nghệ thuật thư pháp chữ Việt còn có nhà thơ Trụ Vũ, Song Nguyên, Chính Văn, Thiên Chương, và gần đây có Bùi Viết Khảm, Nguyễn Thiện Chương, Nguyễn Thanh Sơn... Ngoài những nhà thư pháp thành danh kể trên chúng ta cũng thấy những bức thư pháp thật đẹp đã được trưng bày trong các chùa chiền, tự viện, do các vị tu sĩ xuất gia thực hiện. Thiền sư Nhất Hạnh đã sử dụng hình thức thư pháp trên các bìa sách của ông mới xuất bản gần đây.
Thư pháp chữ Việt được viết theo mẫu tự La-tinh bằng bút lông và mực xạ, các nhà thư pháp Việt Nam đã dùng ngọn bút lông để viết chữ Việt cho thấy đây là một sáng kiến mới lạ đầy tính chất nghệ thuật. Hán tự với cách viết trong hình vuông và từ trên viết xuống, với những đường nét chấm, phẩy, ngang, sổ, khung mác... Trong khi đó các mẫu tự La tinh của chữ Việt có dạng hình tròn và dài và cách viết từ trái qua phải lại thêm các dấu móc. Dưới một mô hình chữ viết đặc biệt các nhà thư pháp Việt Nam đã sử dụng ngòi bút lông một cách tài tình để tạo nên những bức thư pháp đầy màu sắc dân tộc.
Nhìn những bức thư pháp chữ Việt, chúng ta có thể hình dung được những hình ảnh lạ mắt nó giống như Rồng bay, Phụng múa hay Cá đang bơi qua những nét chữ và các dấu móc ngoặc. Các nhà thư pháp của chúng ta đã biết khai thác một cách rốt ráo trong mười lối viết của cây bút lông đó là : Ức (nhấn xuống), Dương (nâng lên), Đốn (dè dặt), Tỏa (hạ xuống), Trì (chậm lại), Tốc (nhanh như chớp), Hoàn (trả lại), Khẩn (vội vã), Kinh (nhẹ nhàng), Trọng (nặng nghìn cân). Từ những nét sinh động, uyển chuyển trong những dấu, nét ngang, nét dọc, nét cong lên, hay ngoặc xuống, cùng các mẫu tự La-tinh được biến dạng đã tạo ra những hình ảnh bay lượn, nhảy múa một cách nhẹ nhàng thanh thoát.
Điểm đặc biệt của thư pháp là sự đơn giản, chỉ một ngọn bút lông (lớn nhỏ tùy theo nhu cầu), nghiên mực, thỏi mực xạ, tờ giấy xuyến chỉ, lụa, gấm hay những vật dụng khác như quạt, đĩa bằng sứ... Phần màu sắc chỉ có một màu đen của mực xạ cùng với một nền màu duy nhất. Gần đây, một ít người viết thư pháp đã dùng mực màu đỏ hay màu vàng có pha kim tuyến để viết. Đặc tính của thư pháp Việt là thể hiện rõ nét bình dị, không trau chuốt, màu mè.
Hiện nay tại Việt Nam phong trào thưởng thức thư pháp đang pháp triển mạnh mẽ. Thư pháp đang bày bán trên các ngỏ đường, sạp báo, trong các nhà sách, được in trên những tấm lịch treo tường và càng nở rộ vào mỗi dịp xuân sang…
Đi đầu trong phong trào Thư pháp thì phải kể đến Thành phố Hồ Chí Minh, Huế và một số tỉnh thành vệ tinh với những cuộc nói chuyện chuyên đề “Hồn chữ Việt và thư pháp Việt đi vào cuộc sống” những năm 2000, đã thúc đẩy mạnh mẽ phong trào viết, chơi chữ Quốc ngữ nói riêng và Thư pháp nói chung và thu hút được sự quan tâm của đông đảo người yêu thích. Không chỉ có người lớn tuổi, nhiều em học sinh, nhiều thanh niên nam nữ cũng đến với Thư pháp như một sự tìm về với tình cảm của chính mình và bản năng nghệ thuật trong con chữ của dân tộc. Sự ra đời của các thư quán, Câu Lạc Bộ, phòng triển lãm khắp nơi là một minh chứng vô cùng rõ nét.
Thư pháp Việt là nghệ thuật mang tính hình tượng hóa đối với chữ viết, thông qua việc dùng bút lông mực tàu để tạo nên những câu chữ với hiệu quả nghệ thuật từ góc độ của hình ảnh, nên nó đã vượt ra khỏi chức năng truyền tải thông tin mà trở thành đầy biến thái ảo diệu, sinh động vô vàn. Thư pháp Việt có mặt ở khắp nơi: báo chí, bích chương, quảng cáo, bảng hiệu, tranh lịch, phần mềm font chữ.v.v... trong nhiều góc độ của cuộc sống. Các tác phẩm thư pháp Việt đủ cỡ lớn, nhỏ kiêu hãnh trang trí cho những Gallery, các phòng triển lãm, thậm chí bình dân như quán café, quán trà, tư dinh, đại sảnh các cơ quan....
Vài năm gần đây, những ngày giáp Tết, Hà Nội lại tấp nập người đi xin chữ. Người sành sỏi phải đến nhà xin bằng được chữ của cụ Hòa, cụ Bách, cụ Quảng, còn ra Văn Miếu, người ta cũng dễ gặp những "ông đồ" trẻ tuổi trải chiếu ngồi cho chữ. Nét chữ đẹp, khéo, không kém phần cứng cỏi, họ chỉ ở lứa tuổi ngoài 20. Ngay trên đất Hà thành người ta dễ gặp những người trẻ tuổi dám mạo hiểm như thế. Đào Thái Hồng Phúc, người đoạt giải thưởng Tài năng trẻ thư pháp tại Festival Huế 2004, mới bước vào tuổi 30 nhưng tên anh đã được những người sành chơi biết đến. Các "ông đồ" thời hiện đại không áo the khăn xếp như ngày xưa nhưng khi đã "vận" mình vào thú chơi này dường như họ cũng tìm lại được chính bản thân. Anh Nguyễn Văn Thức, cử nhân khoa Hán Nôm, trường ĐH Khoa học xã hội Nhân văn, nói: "Từ ngày luyện viết thư pháp, tôi cảm thấy những suy nghĩ của mình có chiều sâu hơn và hiểu hơn giáo lý của đạo Phật. Lúc hướng được ngòi bút theo sự điều khiển của lý trí thấy mình đi được vào tận cùng con người mình". Câu nói có vẻ già trước tuổi ấy lý giải vì sao để tạo nên một bức thư pháp chỉ với một chữ "Nhẫn", "Tâm" hay "Đức"... người viết lại phải khổ luyện, tốn nhiều giấy mực đến thế.
Khăn đóng, áo the đen, những ông đồ ở TP.HCM cũng bày mực tàu, giấy vẽ bên lề đường giữa bộn bề phố xá, thảo lên những bức thư pháp đầy ngẫu hứng, đầy sắc xuân. Nét văn hoá truyền thống hiển hiện giữa lòng thành phố hiện đại không khỏi khiến lòng người có cảm giác hoài cổ, nao nao. Nhưng ấn tượng nhất vẫn là phố của những ông đồ viết thư pháp nằm trên đường Trương Định (Q.3, TP.HCM). Phố thư pháp này nhóm họp từ ngày 22 tháng chạp (31/1/2005) cho đến hêt ngày 30 Tết. Tại đây, thường xuyên có 10 ông đồ chuyên viết thư pháp cho khách có nhu cầu. Ngoài những người viết thư pháp chuyên nghiệp và lão luyện như: hoạ sĩ Bùi Hiến, còn có những SV, những tay viết nghiệp dư. Chiếm phân nửa trong số đó là các bạn trẻ là SV của các trường mỹ thuật ở khoảng độ tuổi từ 22-24.
Mỗi ông đồ trải một đôi chiếu manh, sát cạnh hàng rào của trường PTTH Nguyễn Thị Minh Khai rồi cứ thế khom lưng hí hoáy viết cho khách. Những câu thơ, danh ngôn, ca dao nói về mùa xuân, cha mẹ, tình yêu đôi lứa… viết theo lối thư pháp cứ thế tuôn trào: “Hôm nay tạm nghỉ bước gian nan/ Trông bước gần xa pháo nổ ran/ Dũ áo phong sương trên gác trọ/ Lắng nhìn thiên hạ đón xuân sang”, “Con của mẹ đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con”, “Cha là bầu trời con là hạt bụi/ Con lẫn vào cha từ đó đến muôn đời”. Sản phẩm ngay sau đó được treo lên các bức tường rào vừa để cho khô mực và cũng là để tiếp thị với khách.
Đa phần thư pháp đều được viết bằng chữ Việt. Do đó, ý nghĩa hình tượng của con chữ phải được các ông đồ đầu tư rất công phu. Vì vậy, ngoài những câu thơ, danh ngôn, ca dao do khách yêu cầu. Các ông đồ đã chọn lọc sẵn những mẫu câu cho khách lựa chọn. Ông đồ Nguyên Doãn (Họa sĩ đồ họa) cho biết, anh thích viết nhất hai chữ “Tâm” và “Nhẫn”, mỗi chữ anh sáng tạo thành 10 lối viết khác nhau. Có chữ “Tâm” đường nét tạo thành hình tượng vầng trăng, chim đậu cành tre gợi sự thanh bình, nhưng cũng có chữ “Tâm” trong đó ẩn chứa hình con rắn…
Những ông đồ thời hiện đại Lê Xuân Hòa, Nguyễn Văn Bách, Cung Khắc Lược (Hà Nội), Minh Hiền (Hà Tây), Nguyệt Đình, Triều Tâm Ảnh (Huế), Trụ Vũ (TP Hồ Chí Minh)… tâm sự rằng mình vẫn giữ cái hồn cốt trong nét bút, lời thơ chứ không dụng công cho bất kỳ một sự làm mới nào. Chữ nghĩa thánh hiền mà họ dành tặng tri kỷ, tri âm hay những người yêu chữ vẫn là những bức Hán tự Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh; những câu đối đượm vị xuân: “Thiên tăng tuế nguyệt nhân tăng thọ/Xuân đáo càn khôn phúc mãn môn” (Trời thêm tuổi, người thêm thọ/Xuân đến muôn nơi, Phúc đầy cửa); những bức thư pháp họa (viết và vẽ minh họa bằng tranh thủy mặc) các bài thơ, vần thơ tràn trề xuân ý mà vẫn đượm vị Thiền: “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận/Đình tiền tạc dạ nhất chi mai” (Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết/Đêm qua sân trước một nhành mai)…
Khi đã đạt đến hồn cốt thì người ta không nệ vào những sự làm mới về mặt hình thức của những bức tranh chữ mà trọng sự tươi mới trong từng đường nét ở mỗi lần múa bút của những ông đồ.
Xuân Đinh Hợi 2007 đánh dấu những bước chuyển mình của thư pháp Việt thông qua những cuộc triển lãm và đặc biệt là sự xuất hiện của bức thư pháp có độ dài kỷ lục. Đó là tác phẩm do ông đồ thế hệ 8X-Trịnh Tuấn, sinh viên Trường Đại học Văn hoá Hà Nội - và các cộng sự hoàn thành ngày 2-1, thể hiện 3.254 câu thơ trong tác phẩm Truyện Kiều (Nguyễn Du) bằng hình thức thư pháp chữ Việt. Với độ dài 300m, đây là bức thư pháp dài nhất Việt Nam.
Để hoàn thành tác phẩm, nhóm tác giả đã làm việc liên tục trong 20 ngày, sử dụng 32 cây bút lông và 4,9kg mực tàu. Bức thư pháp được chia làm 3 đoạn, tượng trưng cho 3 đoạn đời chìm nổi của nàng Kiều.
Triển lãm Hồn thu thảo diễn ra đúng dịp xuân Đinh Hợi 2007 đã làm sống lại nghệ thuật thư pháp chữ Nôm và đánh dấu bước chuyển mình của thư pháp Việt.
Triển lãm “Hồn thu thảo” thực sự là một bức tranh đa dạng, đa sắc màu về thư pháp chữ Nôm trong sự chuyển dịch của 5 thể chữ và dưới bút pháp sáng tạo mang đậm dấu ấn cá nhân của các thư pháp gia trẻ kể trên. Lần đầu tiên trong lịch sử hơn 10 thế kỷ của thư pháp nước nhà, chữ Nôm mới được lột xác, được khoác những chiếc áo cánh mới mẻ và đã đem đến cho người xem những cảm nhận ban đầu thú vị về loại văn tự duy nhất do chính người Việt sáng tạo ra.
Mượn tứ thơ của Bà huyện Thanh Quan, “Lối xưa xe ngựa, hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài, bóng tịch dương”, triển lãm tại Văn Miếu chính là gợi nhắc người xem về một thời vàng son, vang bóng của chữ Nôm. Cùng dòng chảy mãnh liệt của lịch sử, chữ quốc ngữ lên ngôi khiến sản phẩm cha ông ta sáng tạo ra, mang đậm dân tộc tính ngày nay chỉ còn là những tàn dư rơi rớt lại. Bởi vậy, phảng phất phong vị cổ điển mà vẫn mang đậm hơi hướng hiện đại là đặc trưng nổi bật của triển lãm. Cổ điển trong việc khai thác, giới thiệu kho tàng văn học quốc âm của dân tộc. Các tác phẩm chữ Nôm truyền thống của văn học Việt Nam như thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Bà huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương... đã được viết lại trên giấy điều, giấy dó, mực tàu, bút lông trong những đường nét uyển chuyển, biến hóa. Đồng thời với đó là việc dùng chữ Nôm để ghi chép lại văn học hiện đại qua thơ Hoàng Cầm, thơ Vũ Đình Liên, hay có khi đơn giản chỉ là những ca từ quen thuộc trong ca khúc của Phú Quang, Trịnh Công Sơn... Tất cả đã tạo thành cái nhìn đa chiều giữa cổ - kim, kỹ pháp - mặc pháp, quá khứ - hiện tại, giữa ngàn năm - hôm nay, giữa truyền thống - cách tân.
Sau cuộc hồi sinh của thư pháp quãng 15 năm trở lại đây, đến “Hồn thu thảo”, thư pháp Việt Nam được coi là thực sự chuyển mình. Các tác giả trẻ Trần Trọng Dương, Nguyễn Quang Thắng đã dũng cảm đưa thư pháp Việt Nam vào sự trải nghiệm của thư pháp Thiền (Zen) của Nhật Bản và thư pháp Tiền vệ (avantgarde) của Trung Hoa. Với bố cục lỏng, không có trọng tâm, cách viết tràn bo, không còn gói gọn trong khối vuông mà người ta vẫn quen nhìn, quen nghĩ về chữ Hán, chữ Nôm, những bức thư họa của triển lãm đã gây được những ấn tượng thị giác mạnh mẽ cho khán giả. Bức “lộp bộp tàu tiêu”, lấy nguyên văn chữ Hán “ba tiêu thính vũ”, được thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu dịch ra Việt văn: “Cách song đêm biết mưa sa/ Tiếng nghe lộp bộp chăng là tàu tiêu”, qua nét bút của Trần Trọng Dương là một sáng tạo độc đáo. Các bộ thảo đầu được viết chụm lại như những tàu chuối, mực điểm và chảy suốt bức viết tràn ra bốn phía đêm đen, các khoảng đen trắng chiếm chỗ và buông thả. Hay như bức “mây giăng ải Bắc” của Nguyễn Quang Duy. Các khoảng đen tràn lan bốn phía, bưng bít và đen đặc, các mảng trắng hiếm hoi và yếu thế càng làm cho màu đen thêm dữ dội hơn. Đó là sự nín nhịn đến ngạt thở của cơn giông đang nghén trận nơi biên ải xa xôi. Cùng nằm trong chùm thư pháp gây ấn tượng thị giác là bức “bóng tịch dương”. Ba chữ “bóng tịch dương” viết theo lối chữ Triện ở một phần tư bức tranh, bao quanh chữ Nhật. Phần còn lại của bức tranh là những dấu triện, ấn chương đỏ đen đan xen xa dần xa dần tạo cảm giác bóng chiều le lói, sắp tắt của ngày tàn.
Có thể nói, thành công của triển lãm không chỉ kéo gần người xem trong những ấn tượng thị giác mà còn là sự thể hiện của những cái tôi đầy sáng tạo và dám dũng cảm cách tân. Triển lãm vì thế còn nhằm giới thiệu thế hệ thư pháp trẻ với những bút pháp, phong cách cá tính riêng của mình. Triển lãm gợi mở hướng đi mới cho thư pháp Việt Nam, theo Lê Quốc Việt, đó là thư pháp salon, bên cạnh thư pháp bình dân, thư pháp miếu đường đang ngày càng mai một, mất chỗ đứng. Thư pháp salon mang dáng dấp, hơi thở của cuộc sống để đến gần và hòa nhập với người xem, đồng thời qua đó thể hiện được bản ngã của người sáng tạo. Hơn nữa, cùng là để hòa nhập vào xu thế mĩ học chung của khu vực với hai đại gia tiêu biểu là Nhật Bản và Hàn Quốc.
Nét đẹp mà gần một thế kỷ trước nhà thơ Vũ Đình Liên từng lo lắng:
"Những người muôn năm cũ hồn ở đâu bây giờ"
Thì đến ngày hôm nay, ông đồ thời hiện đại sẽ không phải chứng kiến cảnh:
"Giấy đỏ buồn không thắm mực đọng trong nghiên sầu"
Xã hội đang tìm lại họ, và nghệ thuật thư pháp sẽ không còn là quá vãng.
Đại cương về thư pháp
NGHỆ THUẬT THƯ PHÁP.
Thư pháp (Calligraphy) là nghệ thuật viết chữ đẹp của người Trung Quốc với các công cụ gọi là "văn phòng tứ bảo" (bút, nghiên, giấy, mực). Thư pháp không chỉ là nghệ thuật, mà còn là một "đạo sống" (Thư pháp giả, Đạo giả).
Đại cương về thư pháp
Thư pháp (Calligraphy) là nghệ thuật viết chữ đẹp của người Trung Quốc với các công cụ gọi là "văn phòng tứ bảo" (bút, nghiên, giấy, mực). Thư pháp không chỉ là nghệ thuật, mà còn là một "đạo sống" (Thư pháp giả, Đạo giả). Cổ nhân cũng từng nói: "Học tập Thư pháp khả dĩ tu thân, dưỡng tính, đào dã tâm tình". Nhận thấy chữ Hán có những nét khá độc đáo, cho nên có người muốn dùng trong hội họa. Đó là thư pháp. Người đầu tiên đưa ra sử dụng là Vương Hy Chi (321 - 379) đã định nghĩa như sau: "Mỗi nét ngang là một đám mây trong một thế trận, mỗi nét móc là một cây cung giương lên, có sức mạnh khác thường, mỗi nét chấm là một tảng đá rơi xuống từ đỉnh núi cao, mỗi nét phẩy là một cái móc bằng đồng, mỗi nét sổ dài là một thân cây cổ kính, mỗi nét phóng khoáng mảnh mai là một lực sĩ chạy thi ở tư thế sẵn sàng lao lên phía trước".
Thư pháp chỉ là cách vẽ. Chỉ khi nào đạt được tư tưởng Thiền trong thư pháp thì mới phả vào đó một tinh thần, gọi là "thư pháp Thiền"; tâm không ổn định, thì không có thư pháp hay được. Người Nhật Bản từ thuở tiếp xúc với văn hoá Trung Quốc, đã nhận ra giá trị ưu việt của bộ môn nghệ thuật kỳ diệu này, đã không gọi tên là "thư pháp", mà gọi nó là "thư đạo" (Shodo). Không những thế, nó là một môn học hẳn hoi, với đầy đủ cơ sở lý luận, từ đời nhà Hán đã từng gọi là "thư học". Các đại gia thư pháp trước khi thành danh đã luyện tập viết mấy chục năm trời ròng rã. Danh từ "lâm trì" là thuật ngữ ám chỉ sự khổ luyện này, được kể ra vô số câu chuyện ẩn dụ về tính kiên trì hiếm có nầy.
Sài Ung đời nhà Hán để lại một thiên lý luận về môn thư pháp, có tên là "bút pháp". Vỹ Đản đời Tấn đã ra công sưu tầm được tài liệu quý giá này, xem là trân bảo. Khi đó Chung Diêu cầu mãi mà không được, cho nên uất ức phát bệnh trầm trọng, đến nỗi Ngụy Thái Tổ phải ban cho ngũ linh đan mới cứu khỏi được. Khi Vỹ Đản qua đời, Chung Diêu âm mưu lén quật mồ lên, đánh cắp thiên "bút pháp" và ngày đêm không rời, khổ luyện rất công phu, thậm chí khi nằm trên giường cũng lấy tay viết lên chăn gối. Trương Chi đời nhà Hán mỗi lần tập viết xong thì đem rửa bút ở ao, lâu ngày nước đen như mực (lâm trì học thư, trì thủy tận mạc). Từ đó mới có thuật ngữ "lâm trì", có nghĩa là khổ luyện cách viết chữ. Đời Tấn, Vương Hy Chi phải trải qua 15 năm chuyên tâm rèn luyện thư pháp, bắt đầu một chữ "vĩnh" (dũng tâm thập ngũ niên, thỉ công nhất "vĩnh" tự).
Đời Tùy, nhà sư Thích Trí Vĩnh (tục gọi là Vĩnh Thiền Sư) cháu 7 đời của Vương Hy Chi, trụ trì ở chùa Vĩnh Hân, ở huyện Ngô Hân; ông lên lầu chùa rồi không xuống, ở đó suốt 40 năm để luyện thư pháp (đăng lâu bất hạ tú thập niên). Ông dùng bút cùn (thoái bút) chất cao thành một gò, gọi là "thoái bút trủng" (trủng là gò mả). Khi thành danh, người người đến xin chữ, khiến cho ngạch cửa nhà ông bị dẫm hư, đến nỗi phải lấy sắt lá bao lại, gọi là "thiết môn hạn". Vua Đường Thái Tông (Lý Thế Dân) lúc rỗi, tay không viết chữ trong không khí (Trừu không luyện tự). Nửa đêm tốc dậy, đốt đuốc luyện Lan Ðình ký, tức là mặc tích của Vương Hy Chi (dạ bán khởi bá chúc học Lan đình ký). Nhà sư Thích Hoài Tố đời Đường, thuở nhỏ nhà nghèo không tiền mua giấy, chỉ còn biết khổ luyện trên những tàu lá chuối mà thành công, được người đời ca tụng là bậc "thảo thánh" (bậc Thánh về lối chữ thảo), mực đẩm lâm ly, bút pháp tiêu sái, dường như cuồng phong, nhưng lại không hề rối loạn. Nổi tiếng về lối chương thảo thì có "Thảo thành nhị vương" tức là hai cha con Vương Hy Chi và Vương Hiến Chi. Nổi tiếng về Cuồng thảo phải kể Trương Húc và Hoài Tố, mà thế nhân thường gọi là "điên Trương, túy Tố" (Trương Húc điên, Hoài Tố say)...
Thư pháp Thiền ở Nhật có kể giai thoại như sau: Khi một người bước chân lên đền Obaku ở Tokyo, sẽ nhìn thấy trên cổng đền bằng gỗ chạm mấy chữ "Đệ nhất đế". Chữ chạm to lớn khác thường và những ai thích chữ đẹp đều luôn luôn chiêm ngưỡng như là một kiệt tác. Những chữ này do thiền sư Kosen vẽ lên 200 năm về trước. Kosen vẽ trên giấy và người thợ chạm theo đó mà chạm lớn vào gỗ. Trong lúc Kosen phác họa trên giấy, chú đệ tử nhỏ can đảm của Kosen đã mài mực cho Kosen đến mấy lần để "viết cho đẹp mới thôi". Chú nói với Kosen như thế. Kosen viết lần thứ hai và quay lại hỏi đệ tử. Cậu bé lắc đầu: "Bức này lại còn tệ hơn bức trước kia nữa!". Kosen vẫn kiên nhẫn viết lần này qua lần khác lên đến 41 tấm và lần nào hỏi ý kiến cho đệ tử mình, thì cậu ta vẫn chê chỗ này, chê chỗ kia. Sau đó chú đệ tử bước ra ngoài. Khi đó Kosen thầm nghĩ: "Bây giờ là lúc ta tránh được con mắt sắc bén của cậu bé". Kosen viết nhanh, với cái tâm không lo lắng "Đệ nhất đế". Chú bé bước vào, reo to lên "một kiệt tác". Những câu chuyện về thư pháp như đã kể trên đây thì nhiều vô số. Điều này cho thấy những công trình "trị thư" của người xưa chuyên cần, trì chí đến mức độ nào! Người Trung Hoa viết theo những thể dáng và bố cục khác nhau: chân thư, hành thư, thảo thư, triện thủ (đại triện và tiểu triện), Họa thư. Cũng có thể dựa theo kiểu viết của từng tác giả nổi tiếng và có ảnh hưởng lớn, được gọi là các “thế” như Nhan thế (thế chữ của Nhan Chân Khanh), Liễu thế (thế chữ của Liễu Công Quyền), Âu thế (thế chữ của Âu Dương Tuần)... Trong cách viết thư pháp, tùy theo bút lực, tâm lực, trí lực, cũng như về nguồn cảm hứng thể hiện trong từng thời điểm khác nhau, người viết có thể dùng những động tác khác nhau: ức (nhấn xuống), dương (nâng cao lên), tốn (dè dặt, thận trọng trong từng đường nét), Tỏa (hạ dần xuống), trì (khoan thai, chậm rãi), tốc (viết nhanh, thanh thoát), hoàn (vuốt lại), khẩn (viết gấp tùy hứng), khinh (nhẹ nhàng), trọng (nặng tay, nét đậm).
Thiên tài thư pháp
Chữ Hán theo lối tượng hình, ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại, cho nên thư pháp cũng được phát triển ngay từ đầu. Những di tích khảo cổ học khai quật ở Ðôn Hoàng đã cho thấy những loại chữ đầu tiên theo kiểu tượng hình đó. Vốn là một nghệ thuật viết chữ đẹp, sự phát triển của loại chữ Hán quan hệ mật thiết với sự diễn tiến không ngừng của những thế chữ khác nhau, cũng như những thay đổi của các dụng cụ về viết (bút, nghiên, mực, giấy...). Về thế chữ, chữ Hán khởi đầu bằng loại giáp cốt (viết trên mu rùa), rồi sau đó, xuất hiện những loại chữ kiểu đại triện, tiểu triện, lệ thư; sau dẫn lại diễn biến thành loại khải thư như chữ thông dụng ngày nay. Nghệ thuật thư pháp Trung Quốc đã phát sinh và tiến triển từng bước theo những thay đổi trong quá trình đó, trở thành một tài sản nghệ thuật quý báu trong kho tàng văn hoá cổ truyền Trung Quốc. Những nhà nghiên cứu về thư pháp ngày càng nhiều, nên có thêm nhiều khám phá mới lạ trong từng thời kỳ.
A- Giáp cốt văn là loại viết chữ cổ nhất của người Trung Hoa.
Theo nghiên cứu, người xưa đã từng dùng dao (hay những dụng cụ sắc bén khác) để khắc vạch lên mai rùa, xương thú mà thành. Ngoài ra cũng dùng trong thuật bói toán. Loại chữ giáp cốt còn được lưu truyền trong sách sử ngày nay, đa phần xuất hiện vào đời nhà Thương; một số nhỏ thì thuộc Tây Chu (theo Lâm Ngữ Ðường). Giáp cốt văn được xem là thư pháp đầu tiên của Trung Quốc.Vào đời Tây Chu, loại chữ “đại triện” xuất hiện; một số nhà nghiên cứu cho rằng loại chữ này do vị quan Thái sử đời vua Chu Tuyên Vương là Trứu (Hoàng Trứu) nghiên cứu để sáng tạo ra, biến đổi của giáp cốt văn. Loại chữ này còn được gọi là “Trứu văn”. Ða số những vương thất quý tộc vào đời nhà Thương và nhà Chu thường sai người chế tác ra rất nhiều lễ vật dùng trong cúng bái, như chuông vàng bằng kim loại, mà trên đó bao giờ cũng khắc chữ; do đó, người đời gọi là “kim văn”. Trên nguyên tắc bố cục và hình thành thì loại “kim văn” của đời nhà Thương có nhiều điểm giống như loại giáp cốt văn ngày trước; cho đến đầu đời nhà Chu, nhờ công trình của Quách Thế Giai, thể “kim văn” đã được chỉnh đốn lại, với khí thế mạnh mẽ; nét chữ mới này tương đối phóng khoáng hơn.
B- Loại chữ triện:
Cho đến những năm cuối thời Chiến Quốc, (206 trước CN) thì lại có thêm những thay đổi thêm, tỏ rõ bước chuyển biến, để sau này trở thành loại chữ “triện” (đại triện và tiểu triện). Tiểu triện là lối chữ được hai vị danh nho đời nhà Tần là Lý Tư và Triệu Cao sáng tạo ra, đã được giản lược khá nhiều so với loại đại triện, cho nên khi viết được tiện lợi hơn và nhanh chóng hơn nhiều. Bản thân vị Thừa tướng Lý Tư cũng là một nhà đại thư pháp đời Tần. Theo những di tích còn lại, thì thể viết tiểu triện của ông rất mềm mại, hoạt bát, cho nên được các danh nho thời đó mệnh danh là loại “ngọc cân triện”. Cũng trong giai đoạn này, loại bút lông đã được phổ biến nhiều; vật liệu để viết này là những vải lụa và những thẻ tre, những bản gỗ mềm mại, cho nên những thể chữ viết đã có phong cách khác với loại chữ khắc trên giáp cốt ngày xưa. Thư pháp được chỉnh đốn thêm nhiều.
C- Loại chữ Lệ:
Càng ngày chữ Hán lại được canh cải thêm. Ðể cho việc viết sách được tiện lợi hơn, loại “chữ lệ” được ra đời sau đó. Loại chữ này đời Tần thì gọi là “Tần lệ”. Sau khi triều đại Tây Hán được kiến lập, chỉnh đốn mọi sinh hoạt văn hoá, quan thừa tướng Tiêu Hà ra quy định: Thư pháp là một trong những nội dung thi cử từ trung ương đến địa phương; những người đạt được những thành tích tốt thì có thể giao phó đảm nhiệm công việc văn thư trong các cơ quan chính quyền. Tuy trong giai đoạn này vẫn còn dùng đến loại chữ đại triện và tiểu triện, nhưng loại chữ “lệ” được xem là quan trọng hơn và phổ biến hơn. Trong nguyên tắc này, loại chữ “lệ thư” đã trở thành thói thời thượng trong cơ quan chính quyền khắp nơi trong xã hội. Cho đến đời vua Thuần Ðế nhà Ðông Hán, cách viết chữ theo hình giống như chữ “bát”, cho nên gọi đó là “bát phân thể”. Loại chữ lệ vào đời nhà Hán này nếu đem so sánh với cách viết của đời nhà Tần thì có những thay đổi khá lớn về cách thể hiện, bố cục, cũng như về ý nghĩa của từng chữ, trong thể tượng hình và hài thanh. Chữ lệ đời nhà Hán (206 trước CN-24) còn truyền lại cho đến nay đa phần đều được ghi khắc trên những bi ký vào hai thời Hoàn Ðế và Linh Ðế là giai đoạn hưng thịnh nhất của triều đại này. Nghiên cứu những văn bản nẩy (theo bản dập in), có những thể viết rất tinh tế, sắc bén, đạt được cái “thần vận siêu dật” (theo Lương Khải Siêu), nét chữ chắc khoẻ, đều đặn, gân guốc, nổi tiếng về những tư thế kỳ lạ, phóng túng; biểu hiện được phong cách đa dạng của loại chữ lệ được biến cách đời Hán. Trong số những nhà thư pháp nổi tiếng trong thời đại này thì Thái Ung (cuối đời Ðông Hán) được ca tụng nhất về cách tu dưỡng cao siêu và đầy tính chất sáng tạo cho loại chữ Lệ. Vào thời vua Linh Ðế, ông đã viết bản “lục kinh” trên bia đá: đó là tấm “thạch kinh” Hỷ Bình nổi tiếng trong lịch sử. Khi tấm bia này hoàn thành và được dựng lên, người đếm xem đông đúc vô tả, mỗi ngày có hàng ngàn cỗ xe từ bốn phương đổ về đế kinh để thưởng ngoạn.
D- Loại chữ Chân:
Thời gian sau đó, chữ lệ lại biến cách dần; cho đến đời Tam Quốc, thì Hán lệ lại được phát triển lên thêm một bực nữa; nét chữ cũng như cách kết cấu chữ lệ nghiêm chỉnh, đẹp đẽ thêm nhiều, hình thành chữ “chân” cũng được gọi là “chính khải”. Trong số những nhà thư pháp trong giai đoạn này, thì loại chữ “chân” của Chung Do vào cuối đời nhà Hán được ca tụng là “cổ nhã tuyệt diệu” khó mấy ai sánh kịp. Sau này, Lý Thái Bạch khen lối viết chữ “chân” của Chung Do là “Hạc múa trên trời; chim hồng giỡn sóng”. Từ đó được nhiều người sao lục để truyền bá khắp nơi. Thư pháp thời này cũng nở rộ. Trong việc truyền bá, “lệ thư” được ra đời và tu chỉnh nhanh là do muốn sao chép cho nhanh chóng và tiện lợi, kể cả việc sử dụng trong trường thi. Nguyên tắc chính là: “lệ thư dùng để viết nhanh chữ tiểu triện”.
Chương thảo: Sau khi lệ thư được ra đời và hoàn chỉnh, thì trong học giới lại có thêm một loại chữ viết nhanh khác, gọi là “chương thảo”, nhưng chỉ được dùng trong dân gian mà thôi. Với những tiến bộ về cách viết chữ như vậy, nhiều tác phẩm nổi tiếng kiệt chúng cũng xuất hiện. Chẳng hạn như vào thời Nguyên Ðế nhà Tây Hán, danh nho Sử Du đã viết “cấp tựu chương” bằng loại chữ mới, được xem là tác phẩm “chương thảo sớm nhất” trong lịch sử văn học Trung Quốc. Như thế, loại chương thảo này vừa bảo tồn được những tinh túy của lệ thư trước kia, mà lại thêm những đường nét mới: nét chữ như sóng, không có sự nối liền giữa các chữ, vừa không hoàn toàn căn cứ vào những quy củ viết chữ của lệ thư. Nhờ thế, đường nét vô cùng phóng khoáng, nhiều bản văn thể hiện rất đặc sắc.
Loại chữ Kim thảo và Hành thư: Sự biến hoá của chữ Hán càng ngày càng phong phú thêm. Cũng trong đời nhà Hán, loại chữ “kim thảo” và chữ “hành thư” lần lượt ra đời, nhưng chỉ được truyền bá trong một số danh gia. Một số nhà nghiên cứu cho rằng: nhân vật đầu tiên đã biết sáng tạo ra chữ “kim thảo” là Trương Chi (?). Nhưng giả thuyết này về sau vẫn bị phản bác. Theo cách viết mới, loại chữ “kim thảo” khác với “chương thảo” là nét chữ không có sóng, giữa các chữ được kết liền lại với nhau. “hành thư” là loại chữ viết nằm giữa loại “khải thư” và loại chữ “kim thảo”; tương truyền là do danh nho Lưu Ðức Thăng ra công sáng tạo nên. Những bản văn của ông lưu truyền lại cho thấy: chữ viết của ông bay bướm, mềm mại, với những nét độc đáo, ít ai theo kịp được.
Như thế, cho đến đời nhà Hán thì cả ba thể viết “khải”, “hành” và “thảo” đã được phổ cập trong dân gian rất hoàn chỉnh, không còn những thay đổi khác nữa. Qua những chuyển biến của chữ Hán, có thể hiểu theo một hệ thống rằng: “lệ thư” là kế tục của “triện thư” và sau đó đã mở ra “thảo thư” và “khải thư”. Cũng nên kể thêm đến việc sáng chế ra giấy trong giai đoạn này để thay thế cho những bảng gỗ, cho nên việc truyền bá văn học dễ dàng, nhanh chóng và sâu rộng. Vào thời Ngụy Tấn, những cuộc tranh chấp triều chính không mấy khi xuất hiện, văn hoá cũng phát triển. Trong thời này, nghệ thuật thư pháp Trung Quốc đã tiếp tục phát triển thêm nhiều, khởi đầu dùng thể “lệ thư” của nhà Hán làm căn bản; sau lại được chuyển qua thể “chân”, “hành”.
Nghệ thuật thư pháp đã đạt được mức độ cao nhất, với sự xuất hiện của vị “thư thánh” là Vương Hy Chi. Tài năng của ông là sự tập hợp tất cả tinh hoa của thư pháp ngày trước, lại thay đổi phong cách chất phác thời Hán và thời Ngụy, tạo ra thể thư pháp mới. Như đã trình bày, “Lan Ðình tự” được người đời tôn sùng, là tác phẩm tiêu biểu của ông.
Đọc thêm :
Viết thư pháp theo phong cách... sexy? : http://www.nguoiduatin.vn/viet-thu-phap-theo-phong-cach-sexy-sao-lai-bien-tuong-dung-tuc-nghe-thuat-chan-chinh-nhu-vay-a121261.html
Nhận xét
Đăng nhận xét