Tranh thủy mặc

Tranh thủy mặc hay tranh thủy mạc, là một loại hình hội họa khởi nguồn từ Trung Quốc. Thủy (水) là nước. Mặc (墨) là mực. Tranh thủy mặc được vẽ bằng mực nước, hay còn gọi là mực tàu trên giấy hoặc lụa. Tranh thủy mặc là loại hình phát triển cùng với nghệ thuật thư pháp Trung Hoa. Các chủ đề chính trong tranh thường là cây cối, hoa, phong cảnh, chim thú, người... và thường kèm theo thơ


Tranh thủy mặc hay tranh thủy mạc, là một loại hình hội họa khởi nguồn từ Trung Quốc.Thủy (水) là nước. Mặc (墨) là mực. Tranh thủy mặc được vẽ bằng mực nước, hay còn gọi là mực tàu trên giấy hoặc lụa. Tranh thủy mặc là loại hình phát triển cùng với nghệ thuật thư pháp Trung Hoa. Các chủ đề chính trong tranh thường là cây cối, hoa, phong cảnh, chim thú, người... và thường kèm theo thơ chữ
Tranh Thủy mặc ở Việt Nam

Khởi thủy dòng tranh thủy mặc: Lĩnh Nam tam kiệt

Các họa sĩ nổi tiếng về tranh thủy mặc (mực nước) hiện đại ở nước ta hiện nay như Trương Hán Minh, Lư Tòng Đạo, Lý  Tùng Niên, Trương Lộ, Lý Khắc Nhu, Mạc Ái Hoàn... đều chịu ảnh hưởng của trường phái Lĩnh Nam.

Họa phái nổi danh


Lĩnh Nam họa phái thuộc về phái cách tân trong hội họa truyền thống Trung Hoa, hình thành ở Quảng Đông vào cuối đời Thanh, người sáng lập chính thức là "nhị Cao nhất Trần", tức Cao Kiếm Phụ, Cao Kỳ Phong và Trần Thụ  Nhân.
Nhưng truy ngược lên nữa có thể kể đến Cư Liêm và Cư Sào - các bậc thầy về tranh hoa điểu, sư phụ của "nhị Cao nhất Trần". Cao Kiếm Phụ, Cao Kỳ Phong và Trần Thụ Nhân sau khi thụ giáo Cư Liêm, đều xuất dương sang Nhật học hội họa Nhật Bản và Tây phương, tham gia Đồng minh hội.
Cả ba chủ trương "Chiết trung, Trung ngoại, dung hợp cổ kim", lấy "đổi mới" làm tôn chỉ, dung hợp tinh hoa của hội họa truyền thống Trung Hoa, Nhật Bản và trường phái Ấn tượng phương Tây.
Tác phẩm của họa phái này không dừng lại ở việc mô phỏng cổ nhân mà mang hơi thở thời đại, màu sắc diễm lệ, đạt đến hiệu quả "quang ảnh" trong hội họa phương Tây.

Cần nhấn mạnh rằng cụm từ  "Lĩnh Nam họa phái" hoàn toàn không phải do các họa sĩ ở Lĩnh Nam tự phong.
Đương thời, phong cách cách tân độc đáo trong các tác phẩm thủy mặc của Cao Kiếm Phụ, Cao Kỳ Phong và Trần Thụ Nhân nổi bật trên họa đàn, người ta xưng là "Lĩnh Nam tam kiệt", dần dần sau đó hình thành cụm từ "Lĩnh Nam họa phái".
Các họa sĩ Cao, Trần đều không vừa lòng với tên gọi ấy vì nó mang tính khu vực nhỏ hẹp. Những tác phẩm tiêu biểu của 3 sư tổ này có thể kể như "Tùng phong thủy nguyệt đồ", "Tùng hạc trục đồ"...
"Trăm hoa đua nở" - bức tranh thủy mặc lớn nhất Việt Nam.
"Trăm hoa đua nở" - bức tranh thủy mặc lớn nhất Việt Nam.
Những năm đầu thế kỷ  XX, trên họa đàn Trung Hoa, Lĩnh Nam đã sánh ngang với hai họa phái nổi tiếng tiêu biểu khác là Kinh phái (Bắc Kinh) và Hỗ phái (Thượng Hải).
Năm 1924, Cao Kiếm Phụ lập Họa viện Xuân Thụy ở Quảng Châu, giảng dạy ở các trường Đại học Trung Sơn, Đại học Trung ương Nam Kinh.
Năm 1964, ông lập Viện Mỹ thuật Nam Trung, đồng thời làm hiệu trưởng trường Nghệ thuật Quảng Châu.
Còn Cao Kiếm Phong lập Thiên Phong Lâu ở Quảng Đông năm 1929, môn đồ nổi tiếng có 7 người gọi là "Thiên Phong thất tử", nổi bật nhất có Hoàng Thiếu Cường. Môn đồ của Trần Thụ Nhân có Lưu Xuân Thảo.

Truyền bá sang Việt Nam

Thế hệ thứ hai của Lĩnh Nam họa phái bắt đầu tung hoành trên họa đàn từ những năm 30 của thế kỷ trước. Tiêu biểu nhất có "Lĩnh Nam tứ đại họa gia" gồm 4 họa sĩ: Triệu Thiếu Ngang, Quan Sơn Nguyệt, Lê Hùng Tài và Lý Thiện Thâm.
Trên cơ  sở sẵn có, các họa sĩ thế hệ này phát triển tinh thần cách tân về ý thức thẩm mỹ lẫn phong cách nghệ thuật với quan niệm "Bút mực theo thời đại", "Xưa để nay dùng".
Triệu Thiếu Ngang chính là  thầy của Lương Thiếu Hằng - người sáng lập Đông Phương nghệ uyển ở Sài Gòn - Chợ Lớn năm 1960, đào tạo ra các họa sĩ nổi danh ngày nay ở TP.HCM. Họa đàn Sài Gòn - Chợ Lớn phát triển mạnh vào những năm 60, 70 thế kỷ trước.

Năm 1970, trong một cuộc triển lãm gây quỹ mua sắm trang thiết bị cho Bệnh viện Sùng Chính (nay là Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình) đã có đến 113 họa sĩ tham dự, cùng với 30 họa sĩ đến từ Hồng Kông và 64 họa sĩ đến từ Đài Loan.
Cuộc triển lãm có một không hai này tề tựu đầy đủ bốn phái ở Chợ Lớn (Lĩnh Nam Lương Thiếu Hằng; Kinh phái Đới Ngoạn Quân, Tả Bạch Đào; Hỗ phái Hà Lãng Hùng; Tây họa Sài Đinh).
Tranh Thủy mặc Hiện đại

Silk Paintings

Ancient Silk Painting

From its emergence to maturity. Chinese painting stretches over a long period that dates back to the remote Neolithic Age (8.000-5.500BC). The working early human produced practical utensils and structures with decorative designs that engendered the earliest consciousness about painting composition.
As a wall ornament. the silk painting. which contains characters of early Chinese painting. emerged in the Warring States Period (403-221BC). Representatives of such works include Lady. Dragon and Phoenix Painting and Man Driving the Dragon. which were unearthed in Changsha City. Hunan Province.
Both pieces were used at funerals to lead the dead to heaven. The Lady. Dragon and Phoenix Painting depicted stories of the deceased in the tomb. The matching of colors -- black and white. the contrast of false and truth. movement and stillness -- are striking.
         The Man Driving the Dragon depicts a bearded man wearing in a robe with a dragon beside him and a white bird standing on his tail. which demonstrates the noble status of the deceased. Among the remaining paintings are the excellent representative works of the Han Dynasty. when elaborate funerals were popular. like the one unearthed in the Mawangdui Han Dynasty tomb in Changsha City. The silk painting contains three parts: the Heaven. World and Hell. The Heaven is a horizontal scroll. while the others are vertical. wishing the deceased spirit entered Heaven.
  The discovery of the silk paintings provided important historical materials for researching the development of traditional painting.

Tranh chọn lọc - Selection




Phong cảnh - Landscape



Trúc - Bamboo



Lan - Orchird



Hoa sen - Lotus


Khỏa thân - Nude


Nude Chinese Oil Paintings

 - 37 bức tranh tranh thủy mặc trên chất liệu giấy dó, lụa và đặc biệt là pháp lam Huế của nhà sư, họa sĩ Hoàng Đức – Chỉnh Tuệ vừa ra mắt tại Gác Trịnh (đường Nguyễn Trường Tộ, TP Huế) đã gây sự ngạc nhiên cho nhiều người xem.

Triển lãm “Mùa Xuân trên Gác Trịnh” vừa khai mạc chiều 2/1 đã lần đầu tiên giới thiệu đến công chúng những bức tranh phong cách thủy mặc đẹp mê hồn của nhà sư Hoàng Đức – Chỉnh Tuệ (SN 1963 tại Phú Cát, TP Huế, hiện nay là Ủy viên Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trụ trì Chùa Linh Hội, Hà Tây, Hà Nội).
Chỉ với 37 bức tranh diễn tả chủ đề mùa Xuân, với chủ đề hướng về thiên nhiên, tình cảm và con giáp Ngọ trong năm 2014, tác giả đưa người xem đến những góc bình yên, đầy chất thiền, mở ra những khoảng nhìn thênh thang làm lòng nhẹ đi giữa bao lo toan cuộc sống. Những gụ mai vàng, đào đỏ, trúc, sen, chim chóc hát ca, vó ngựa nhẹ tênh giữa cảnh vật xuân… cho biết bao cảm xúc về tình yêu thiên nhiên đầy sự mời gọi khám phá.
Một bức tranh thủy mặc về mùa xuân
Một bức tranh thủy mặc về mùa xuân
Ngoài thể hiện trên giấy dó, lụa, tranh thủy mặc còn được sư Hoàng Đức – Chỉnh Tuệ vẽ trên pháp lam (sứ phủ trên đồng - chỉ có ở Huế từ thời vua Nguyễn). Đây được xem là những sản phẩm pháp lam Huế đầu tiên vẽ theo kiểu tranh thủy mặc. Theo tác giả, phải vẽ từng lần rồi đem đi nung ở nhiệt độ cao. Nên mất nhiều lần nung hơn, tuy nhiên tỷ lệ thành công chỉ khoảng 70%. Nơi ra đời những bức tranh “thủy mặc pháp lam” này chính ở lò sản xuất pháp lam Thái Hưng, đơn vị đã “hồi sinh” pháp lam Huế sau mấy trăm năm thất truyền, và cho ra đời cặp đèn kính pháp lam khổng lồ ở Festival nghề Huế 2013 vừa qua.
Triển lãm “Mùa Xuân trên Gác Trịnh” của nhà sư, họa sĩ Hoàng Đức – Chỉnh Tuệ với mục đích từ thiện, lấy tiền bán tranh ủng hộ các hoạt động văn hóa Huế sẽ diễn ra đến hết ngày 9/1/2014.
Tác phẩm
Tác phẩm Chân ngựa về có hình bóng khuôn mặt nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn như một tình cảm cho triển lãm ở tại Gác Trịnh – nơi ở xưa của Trịnh 
Tác phẩm
Tác phẩm Trần bất động
Đào đỏ trăng vàng
Đào đỏ trăng vàng – tác phẩm thủy mặc trên chất liệu pháp lam Huế
Đào đỏ trên cây
Đào đỏ trên cây bằng pháp lam
Mai cốt cách
Mai cốt cách
Tin yêu còn lại
Tin yêu còn lại
Độc hành
Độc hành trên Pháp lam
Trúc ảnh
Trúc ảnh
Hương thầm
Hương thầm
Một bức về hoàng mai mùa xuân
Một bức về hoàng mai mùa xuân
Ngựa rất có dáng vẻ khoan thai, phong thái
Ngựa rất có dáng vẻ khoan thai, phong thái
Ngựa rất có dáng vẻ khoan thai, phong thái
Nhà sư, họa sĩ Hoàng Đức – Chỉnh Tuệ tại phòng triển lãm tranh đầu xuân Giáp Ngọ ở Gác Trịnh - Huế
Nhà sư, họa sĩ Hoàng Đức – Chỉnh Tuệ tại phòng triển lãm tranh đầu xuân Giáp Ngọ ở Gác Trịnh - Huế

Họa sĩ Trương Hán Minh vừa được trung tâm Kỷ lục châu Á bình chọn kỷ lục về tranh thủy mặc duy nhất tại Việt Nam. Dự kiến, đầu tháng 6/2013, ông sẽ được trung tâm này đến Việt Nam trao giải.

Thành họa sĩ nhờ học... lén
 Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân, ba mẹ là người gốc Hoa sang Việt Nam sinh sống, Trương Hán Minh (SN 1951, tại  Chợ Lớn, TP.HCM) đã sớm tiếp cận với môi trường cỏ cây hoa lá từ những đám rau, vườn cây, con vật thân thuộc mà gia  đình vốn có. Từ đó, cuộc sống như trở nên đáng yêu hơn trong con mắt của chàng thanh niên mới lớn. Là đứa con duy nhất trong gia đình, ông được ba mẹ hết sức ưu tiên cho chuyện học hành.
Họa sĩ Trương Hán Minh bên những tác phẩm (Ảnh Ái Minh)
Nhưng rồi, những dự tính của ba mẹ dường như không thể ngăn cản nổi ước mơ học vẽ của ông. Lúc 16 tuổi, ông đã biết tự vun đắp ước mơ để trở thành họa sĩ. Mặc dù bị cấm học vẽ nhưng trong lớp học văn hoá, ông chỉ thích cầm cọ vẽ trên giấy. Ông nhớ lại: "Đi học trên trường, nhưng tôi chỉ mê vẽ.
Biết ba mẹ không đồng ý, nhưng trong đầu tôi vẫn chỉ có... vẽ. Có những hôm, tôi bị thầy cô la vì có những hành động kỳ quặc, toàn vẽ lên giấy hình những con thú, cây cối... Về nhà, tôi phải hết sức kín đáo với chuyện học vẽ của mình. Tôi bị ba mẹ tuyệt đối cấm kỵ. Họ nói với tôi: "Nghề họa sĩ xưa nay nghèo lắm, không có tiền mà ăn đâu".  Thế nhưng, tôi thấy  đam mê môn vẽ nên lén lút học. Ba mẹ vẫn không hề hay biết gì chuyện của tôi. Mỗi khi đêm về, ba mẹ ngủ rồi, tôi mới dám lấy giấy ra vẽ vời".
 Sau ba năm học hỏi ở trường và tự mày mò ờ nhà, Trương Hán Minh đã có tác phẩm tranh triển lãm. Lúc này, tên tuổi của ông nổi tiếng trên khắp các mặt báo, nên gia đình mới nhận ra rằng con mình vẫn âm thầm theo nghiệp vẽ. Họ thấy tự hào vì có đứa con dám nghĩ dám làm, luôn biết học hỏi, và không ngừng vươn lên sáng tạo.
Từ đó, gia đình chấp nhận cho ông theo đuổi nghiệp vẽ. Những năm 70 của thế kỷ trước, nghề hội họa tại Việt Nam dường như còn xa xỉ, hiếm có người theo học. Nhưng ông sớm tiếp cận được với những cách tân của hội họa phương Đông, từ người thầy là họa sĩ Lương Thiếu Hằng từ Hồng Kông qua Sài Gòn mở lớp hội họa, nên tranh thủy mặc của Trương Hán Minh đã có những bước đột phá.
Ông cho rằng, dù là truyền thống hay hiện đại, tranh thủy mặc đều chú trọng cái nhã, cái đơn giản, tính hàm súc và tính khí thế. Mỗi bức tranh đều chứa đựng những quan điểm sống hay quan điểm nghệ  thuật của tác giả.
Đối tượng mà ông vẽ chính là cuộc sống con người sao cho gần gũi, thân thuộc nhất. Những con vật từ thời thơ ấu như chim cá, chuồn chuồn, bướm, hay những cây cối như sen, tre, trúc... từ Đầm Sen ngày xưa được ông vận dụng vào những tác phẩm của mình rất nhuần nhuyễn.
Sự cách tân đã đưa giá trị những tác phẩm của ông lên tầm cao mới. Ông mạnh dạn lấy những cảnh vật gần gũi thân quen từ hiện thực cuộc sống, đưa vào tranh với phong cách vừa cổ điển, vừa hiện đại, pha tầm ảnh hưởng của hội họa phương Tây nhưng vẫn tái hiện được cảnh vật thiên nhiên hữu tình tại Việt Nam. Ông thường xuyên thâm nhập vào cuộc sống  bằng những chuyến đi thực tế dài ngày để trải nghiệm những nét đẹp trên đất nước Việt Nam.
Một bức tranh thiên nhiên của họa sĩ Trương Hán Minh (Ảnh Ái Minh)
Vẽ tranh để làm thiện nguyện
 Xuất thân từ gia đình nông dân, từ nhỏ, họa sĩ Trương Hán Minh đã sớm biết cảm thông với những người có hoàn cảnh khó khăn, những mảnh đời bất hạnh, nhưng chưa có cơ hội mở lòng giúp đỡ họ. Khi những bức tranh của ông được mang đi triển lãm, nhiều doanh nhân đã cảm được cái thần thái, tài nghệ của ông, từ đó họ đấu giá làm từ  thiện. Ý tưởng giúp người nghèo của ông bấy lâu nay đã thành hiện thực.
Ông kể rằng: "Thời điểm những năm 1990, tôi đã sử dụng tranh vẽ của mình làm từ thiện rất nhiều. Tôi nhớ có bức tranh đã bán được hơn 150 triệu đồng năm 1994, xây được hàng chục căn nhà tình nghĩa. Rồi sau đó, nhiều bức tranh khác đấu giá được hàng tỷ đồng giúp đồng bào miền Trung lũ lụt... Có lẽ chính nhờ làm việc thiện, giúp tôi nỗ lực hơn trong nghiệp vẽ của mình. Một trong những bức tranh đấu giá hơn một tỷ đồng có tên Phú Quý Trường Xuân là tôi ấn tượng nhất, giúp tôi nhận danh hiệu Kỷ lục gia Việt Nam về tranh thủy mặc".
Ông vốn là người Việt gốc Hoa, nhưng trong lòng họa sĩ vẫn mong muốn làm những việc nghĩa hiệp cho đời trên mảnh đất mà mình được sinh ra. Ông tâm sự: "Một lý do khác khiến tôi sớm đến với những mảnh đời bất hạnh là vì trước đó tôi từng là người thầy giáo đi dạy văn, dạy hội họa cho học sinh.
Tham gia nhiều công tác xã hội, nhiều tổ chức đoàn thể, tôi thấu hiểu được tinh thần tương thân tương ái của bà con mình, với truyền thống lá lành đùm lá rách, đỡ đần nhau trong lúc khó khăn của người Việt. Ngoài ra, trong quá trình công tác, tôi tiếp thu được những đức tính từ Bác Hồ là phải thương yêu đồng loại... cho nên hi  sinh  tiền của vì người nghèo là việc tôi nên làm".
Những tấm huy chương nhận giải thưởng của họa sĩ Hán Minh (Ảnh Ái Minh)
 Đồng cảm với những người nghèo, ông nhớ lại cuộc sống lúc khó khăn của mình. Ông cho rằng, để được thành công như ngày hôm nay, bản thân  đã phải trải qua bao khó khăn của cuộc đời. Ông kể: "Có thời điểm, gia đình tôi cũng khó khăn lắm. Thời đó, tranh tôi sáng tác rất đẹp nhưng người dân chưa biết thưởng thức nhiều. Do đó, những đồng tiền từ việc bán tranh không trang trải đủ cuộc sống gia đình.
Vốn cưới vợ sớm, tôi còn phải đảm nhiệm trách nhiệm lo cho các con ăn học đến nơi đến chốn.  Cứ mỗi lần hết gạo là bà xã lại kêu lên con không có gì ăn. Những lúc đó, tôi phải đấu tranh giữa cái sống với nghệ thuật. Kết quả tôi vẫn phải làm thuê đủ thứ nghề như công nhân, buôn bán... Tuy nhiên tôi vẫn miệt mài vẽ ngày đêm, bất cứ lúc nào rảnh".
Nói về sự khổ luyện để thành tài, họa sĩ Minh cho rằng: “Tranh thủy mặc là môn học rất khó. Nếu có tài, có tâm, người họa  sĩ phải học hành chăm chỉ ba năm mới có thể biết vẽ. Tuy nhiên, cái cốt yếu để vẽ nên một tác phẩm tranh thủy mặc có hồn đó chính là ý tưởng sáng tạo, sự kiên trì, chịu khó, có năng khiếu vẽ... Cái hồn bức tranh chính là yếu tố để đánh giá bức tranh của bạn có thành công hay không, đánh giá được tài năng nghệ thuật của người vẽ bức tranh đó. Tôi nghĩ nhận giải Kỷ lục gia  châu Á về  tranh thủy mặc lần này không có gì phải bất ngờ. Nó là cả một quá trình lao động miệt mài, sáng tạo chưa bao giờ ngưng nghỉ của tôi. Bằng chứng là tranh của tôi đã được mọi người yêu thích khắp nơi, và quan trọng, tôi biết dâng hiến những thành công nhỏ bé của mình cho  những mảnh đời khó khăn".
Theo họa sĩ Trương Hán Minh, những người trẻ hãy nuôi dưỡng ước mơ, dám nghĩ dám làm thì tất sẽ có ngày thành công. "Thời đó, tôi  từng bị cấm cản nhưng vẫn học được. Học vẽ thành thạo, có vào bức tranh nổi tiếng thì lại gặp khó khăn về kinh tế, chạy đôn chạy đáo làm đủ thứ nghề kiếm ăn.
Tuy nhiên cuối cùng tôi vẫn thực hiện được ước mơ của mình. Tôi muốn nhắn nhủ với các bạn trẻ rằng, nếu có ước mơ hoài bão thì phải kiên trì, chịu khó thực hiện ngay khi còn trẻ. Để đến khi về già nếu có cơ hội thì mình  có cố gắng không bao giờ kịp".    
Tranh Thủy mặc, thư pháp ngày nay không còn là một thứ gì đó xa lạ mà nó đã gắn liền với đời sống của chúng ta. Với nhu cầu thể hiện tình cảm, tình yêu thương đối với người thân, bạn bè: Tranh luôn được coi là món quà tặng ý nghĩa, chứa đầy tình cảm và tâm hồn để mọi mối quan hệ càng trở nên gần gũi hơn. Với nhu cầu trang trí và thẩm mỹ: những bức Tranh sẽ xóa đi sự khô khan nhàm chán của những vách tường và thay vào đó là cả một không gian tuyệt vời, đầy màu sắc làm tăng vẻ đẹp và sự quý phái cho không gian sống của bạn.
T41 - Tranh Thủy Mặc
Một số tác phẩm tiêu biểu....
TM41 -tranhthuymac- 890k (4).jpg
TM41 -tranhthuymac- 890k (8).jpg
TM41 -tranhthuymac- 890k (5).jpg
TM41 -tranhthuymac- 890k (3).jpg
TM41 -tranhthuymac- 890k (1).jpg

Thông tin lớp học

Tranh thuỷ mặc đã có từ lâu đời và phát triển mạnh ở Trung Quốc. Cũng như tranh sơn dầu và các loại tranh bằng chất liệu khác, tranh thuỷ mặc có sức hấp dẫn thuyết phục lòng người là vì nó phản ánh hiện thực khách quan của tự nhiên và xã hội một cách sâu sắc và tinh tế. Tranh thuỷ mặc từ xưa đã đi vào cuộc sống và bản thân nó nổi lên những cảm xúc yêu quý thiên nhiên, phản ánh sự vui buồn, đắng cay bất công của xã hội đương đại. Mỗi tác phẩm đều mang tính triết lý về xã hội, thiên nhiên rất đa dạng và huyền bí.
Ở Việt Nam, tranh thuỷ mặc đang được nhiều hoạ sĩ học tập sáng tác và phổ biến nhiều nơi trên đất nước, đặc biệt là trong cộng đồng người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh. Vậy nên, vẽ tranh thuỷ mặc là một bộ môn cực kỳ thú vị đối với những cá thể đam mê lĩnh vực hội hoạ.
Lớp học này sẽ cung cấp những kiến thức căn bản của kỹ thuật vẽ tranh thuỷ mặc. Người học được hướng dẫn thuần thục về các thao tác trong việc lấy mực vẽ, kết hợp các ngón tay trên bàn tay để đưa cánh tay nhịp nhàng, uyển chuyển và tạo ra những đường nét đậm nhạt, cấu trúc khối hình. Các học viên sau khi hoàn thành khoá học có đủ khả năng để sáng tác những tác phẩm thuỷ mặc theo sở thích của mình.



Tranh thủy mặc


  Khác với vẽ tranh sơn dầu, tranh thủy mặc có cách vẽ riêng, phương thức thao tác cũng có khác, đòi hỏi người vẽ phải nhịp nhàng, uyển chuyển bàn tay khi biểu hiện nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm. Khi vẽ tranh sơn dầu, họa sĩ có thể sửa chữa nhiều lần, sử dụng mầu sắc để diễn tả hình khối, ánh sáng,... song tranh thủy mặc đòi hỏi người vẽ phải thuần thục thao tác trong việc lấy mực vẽ nhiều hay ít, kết hợp các ngón tay trên bàn tay để đưa cánh tay nhịp nhàng nhanh chậm, tạo ra những đường nét đậm nhạt, cấu trúc khối hình. Sự kết hợp ấy thể hiện kỹ năng, kỹ xảo điêu luyện, với ý tưởng nội dung tranh của tác giả. Nói một cách khác vẽ tranh thủy mặc rất khó, đòi hỏi phải thuần thục một cách nhuần nhuyễn giữa các yếu tố vật chất như bút lông, mực, nước nền vẽ mà chủ yếu là giấy chuyên dụng, với tư duy nghệ thuật cao của họa sĩ.


   Tranh thủy mặc đã có lâu đời và phát triển mạnh ở Trung Quốc. Nhiều ý kiến khác nhau về sự ra đời của tranh thủy mặc. Song nhìn chung là xuất phát từ công cụ viết chữ bằng lông thú và sau này gọi là bút lông, viết chữ tượng hình như là chữ Hán. Từ những cách sử dụng bút lông điêu luyện của chữ viết mà những hình tượng do cách chấm phá của chữ viết ở Trung Hoa đã làm cho tranh thủy mặc trở nên kỹ năng, kỹ xảo hơn. Vì thế có những bức tranh vẽ xong người xem cảm thấy sâu thẳm, xa xăm, pha trộn nỗi nhớ man mác. Do tiến bộ khoa học, kỹ thuật, mà nhất là ngành chế tạo hóa chất ở phương Tây, đã cho ra đời chất liệu vẽ sơn dầu nhiều mầu sắc bền đẹp, tạo cho các họa sĩ phương Tây bước vào vũ đài nghệ thuật tạo hình hiện đại. Dựa vào thế mạnh của chất liệu sơn dầu, phương pháp tạo hình đa sắc mầu, không gian ba chiều, cách tiếp cận lập thể đã làm cơ sở cho giới họa sĩ phương Đông có cách nhìn mới cho tranh thủy mặc. Vì thế, tranh thủy mặc mỗi ngày được sáng tạo, đổi mới, cách tân khá toàn diện về không gian, bố cục, không đơn điệu như trước nữa. Nhiều tác phẩm thủy mặc của Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam,... trở nên phong phú, cả về đường nét, cấu trúc cho đến mầu sắc. Những bức tranh sông núi, chim, cây tùng, cây bách, cành tre, khóm trúc,... của các họa sĩ ở thế kỷ sau này khá sinh động và gây được nhiều ấn tượng đối với người xem tranh thủy mặc.
Nghiên cứu nghệ thuật vẽ tranh thủy mặc của các danh họa Trung Hoa, các nhà phê bình mỹ thuật thời nay không thể không thốt lên rằng, quả thật họ là những bậc thầy đáng kinh ngạc. Những đường nét uyển chuyển mềm mại, bay bướm, đậm nhạt theo cảm xúc và ý tưởng cấu trúc nội dung của tác phẩm đã tạo nên bức tranh sống động phóng khoáng mà không có loại tranh nào sánh được. Đó chính là đặc trưng, sắc thái riêng của tranh thủy mặc. Những bức tranh nổi tiếng của Tề Bạch Thạch, Từ Bi Hồng vẽ về động vật, cây cối, chim, muông, tôm, cá, ngựa đã làm xao xuyến lòng người không những trong nhân dân, mà cả những người trong giới mỹ thuật. Là những bậc thầy của dòng tranh thủy mặc, các danh học ấy không những để lại cho nhân loại những kiệt tác hội họa, mà còn hướng dẫn cho học sinh sau này về phương pháp tạo hình thủy mặc, một loại tranh nổi tiếng của phương Đông. Cũng như tranh sơn dầu và các loại tranh bằng chất liệu khác, tranh thủy mặc có sức hấp dẫn thuyết phục lòng người là vì nó phản ánh hiện thực khách quan của tự nhiên và xã hội một cách sâu sắc và tinh tế. Tranh thủy mặc từ xưa đã đi vào cuộc sống và bản thân nó nổi lên những cảm xúc yêu quý thiên nhiên, phản ảnh sự vui buồn, đắng cay bất công của xã hội đương đại. Mỗi tác phẩm có tính triết lý về xã hội, thiên nhiên rất đa dạng và huyền bí, dù đó là một phong cảnh bốn mùa, xuân, hạ, thu, đông, đàn ngựa, đôi hạc, cây tùng, hoa cúc, hoa hồng, hoa mẫu đơn,...
Ở nước ta ngày nay, tranh thủy mặc đang được nhiều họa sĩ học tập sáng tác dòng tranh này và phổ biến nhiều nhất là trong cộng đồng người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh. Chắc chắn, cùng với tranh sơn dầu, bột mầu,..., tranh thủy mặc ở Việt Nam sẽ phát triển rộng rãi và có nhiều tranh đẹp phục vụ nhân dân
   Một số tranh nổi bật về thể loại thủy mặc


Tác phẩm Phú Quý Trường Xuân dài 4,1m, cao 1,25m với đề tài hoa - điểu
của Họa sĩ Trương Hán Minh được
Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam chính thức xác lập
kỷ lục "Bức tranh thủy mạc về hoa dài nhất"



Tác phẩm Phiên chợ cá Long Hải. Mảng tranh thủy mặc tả thực của Trần Văn Hải khai thác vẻ đẹp của người lao động trong những loại công việc vất vả, nhưng ngầm ca ngợi cuộc sống bình dị, hiền hòa. Đây là lối vẽ trong nhiều tác phẩm đoạt các giải thưởng mỹ thuật của Trần Văn Hải thời gian qua.



Tác phẩm :Chợ miền núi của họa sĩ Trương Lộ



















Nhận xét