Thứ Bảy, 14 tháng 2, 2015

THẬP THÁP DI ĐÀ TỰ

Mười tháp Champa trong kinh thành Vijaya bị con người tàn phá














Thành Vijaya thất thủ vào ngày 2 tháng 3 năm 1471 sau bốn ngày giao tranh. Vua Champa là Trà Toàn bị bắt sống và tự sát trên đường chở về Thăng Long.(05/03/ Al) Trong cuộc tiếp kiến, Vua Trà Toàn xin vua Lê chỉ làm tội một mình ông và tha cho người dân Champa. Trên đường về tới Nghệ An, Trà Toàn tự tử chết. Lê Thánh Tôn sai cắt đầu Vua Trà Toàn treo ở đầu thuyền và cho khắc chữ "Cổ Chiêm Thành ngươn ác Trà Toàn chi thủ". Ít nhất hơn 60.000 người Champa  bị giết và 30.000 bị bắt làm nô tỳ cho quân Đại Việt. Kinh thành Vijaya bị phá hủy hoàn toàn, người dân bị tàn sát vô tội vạ, trong đó có 10 ngôi tháp này bị phá hủy.Đây là cuộc tàn sát đẫm máu nhất của đại việt đối với champa. Hoàng tộc champa chạy sang malacca( khoảng 20.000 trốn thoát bằng thuyền qua cửa đầm thi nại, trong đó có con vua trà toàn làIndravarman và bàn la trà ko lai(Pau liang). Sau cuộc chính biến lịch sử này rất nhiều người di cư chính trị Champa đã đến các vùng đất Mã Lai an bình , một số khác thì tới Melaka . Cũng trong đoàn người di cư đó là hai hoàng tử con vua Champa Trà Toàn , đó là Indravarman vàPau Liang như đã nói ở trên. Bằng chứng được tìm thấy chứng minh sự gắn kết lịch sử giữa Champa và Mã Lai là Al-kisah 29 trong đó đã kể lại câu chuyện về một người Nakhoda Champa có tên là Sayyid Ahmad đã làm bạn cùng Hang Tuah( một anh hùng rất nổi tiếng trong lịch sử Mã Lai) và cùng đến Inderapura (Pahang_Malaysia) để trốn Tun Teja đến Melaka. Sức mạnh Champa được chứng minh là lớn hơn cả vùng Pahang sau khi được giúp đỡ của người anh hùng Melaka trốn khỏi Tun Teja. sự có mặt của Nakhoda Champa tại Melaka và Pahang này lại được chứng minh bằng một cơ sở chắc chắn sau khi tìm được trong Al-kisah ke-34 nói về cuộc hôn nhân giữa một công chúa thuộc dòng tộc Champa với một quy tộc ở Melaka.( theo Sejarah Melayu Champa +Ban La Tra Toan memerintah di ibu kota Sri Vini (Sri Raja Than Ton). Setelah Kota Vijaya jatuh. Raja Champa pun mati terbunuh. Dengan kejatuhanibu ota Vijaya ini ramai pelarian politik Cham yang menuju ke daerah Melayu yang selamatk, antara lain ke Melaka. Yang termasuk dalam pelarian itu ialah dua orang putera raja Champa, iaitu Indravarman dan Pau Liang di atas. Gambaran Sejarah Melayu tentang Champa terdapat dalam Al-Kisah ke29 yang menceritakan seorang Nakhoda Champa yang bernama Sayyid Ahmad bersahabat dengan Hang Tuah pergi ke Inderapura (Pahang) untuk melarikan Tun Teja Ke Melaka. Kekuatan Champa berdasarkan fakta jelas lebih besar daripada perahu Pahang hingga dapat menolong pahlawan Melaka itu melarikan Tun Teja. Kehadiran tokoh Nakhoda Champa di Melaka dan di Pahang dapat dihubungkan pula dengan wujudnya pedagang Champa di Banten seperti yang diceritakan oleh Sejarah Melayu dalam Al-Kisah ke-34 menceritakan perkahwinan seorang puteri keturunan Champa dengan anak seorang pembesar Melaka.)khoảng 30000 người chạy sang lào và campuchia sau cuộc tàn sát đẫm máu này.Lê Thánh Tôn giải tán vương quốc Champa. Thủ đô chính trị, hành chánh và tín ngưỡng của vương quốc Bắc Champa .Vijaya bị đổi thành Đồ Bàn và cấm người Champa đến cư ngụ.Cũng chính nơi đây xảy ra cuộc thanh trừng đẫm máu nhất của Nguyễn ánh với cuộc khởi nghĩa tây sơn.Hiện nơi đây vẫn còn một hòn đá" Chém" được đăt  dưới chân phật Adi Đà.Phía sau chùa vẫn còn một tháp, gọi là tháp mẫn đã bị con người tàn phá,hướng nam chùa là tháp cánh tiên còn hiện hữu.Tên “Di Đà” là danh hiệu đức Phật giáo chủ cõi Cực lạc. Di Đà cũng có nghĩa là lý tính, bản giác của chúng sinh. Tập hợp các ý nghĩa trên, tổ đình mang tên Thập Tháp Di Đà Tự.
Chùa tổ đình Thập Tháp Di Đà gắn với tên tuổi vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều. Nhiều tư liệu ngày nay cho biết ông họ Tạ, tự là Hoán Bích, người huyện Trình Hương, phủ Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.ông sinh năm Mậu Tý (1648), năm 19 tuổi xuất gia ỏ chùa Báo Tự.
Năm 1677,ông theo thuyền buôn của người Trung Quốc đến phủ Quy Ninh, nay thuộc tỉnh Bình Định, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 28 km, dựng thảo am thờ Phật A Di Đà. Năm 1683, chùa đã dùng gạch đá của 10 ngôi tháp đổ champa dựng lên ngôi chùa.
Chùa đã trải qua 16 đời truyền thừa với nhiều vị thiền sư danh tiếng như:  Thiền sư Liễu Triệt, Thiền sư Minh Lý, Thiền sư Phước Huệ … Thiền sư Phước Huệ đã được tôn làm Quốc sư. Ngài đã được mời vào giảng kinh trong hoàng cung nhà Nguyễn từ đời vua Thành Thái đến vua Bảo Đại, và giảng dạy Phật pháp ở Phật học đường Trúc Lâm và Tây Thiên (Huế) từ năm 1935.
Từ ngoài vào, đi dọc theo hồ sen đến cổng chùa, đó là hai trụ biểu vuông cao, trên đặt hai tượng sư tử ngồi uy nghi, nối một vòng cung, phía trên có gắn hai chữ "Thập Tháp". Sau cổng là tấm bình phong, mặt đắp nổi long mã phù đồ đặt trên bệ chân quỳ.
Chùa kiến trúc theo kiểu chữ “Khẩu”; gồm ngôi chính điện, đông đường (giảng đường), tây đường (nhà Tổ) và nhà phương trượng.
Ngôi chính điện do Thiền sư Liễu Triệt cho trùng kiến vào năm 1749. Ngôi chính điện ngày nay mái thẳng, lợp ngói âm dương, trên nóc có lưỡng long tranh châu.
Phật điện được bài trí tôn nghiêm, chính giữa thờ tượng Tam Thế Phật, Chuẩn Đề, Ca Diếp, A Nan; khám thờ Bồ tát Quán Thế Âm và Bồ tát Địa Tạng đặt hai gian hai bên điện Phật; hai vách tả hữu đặt tượng Thập Bát La Lán, tượng Thập Điện Minh Vương, Hộ Pháp, Tổ sư Đạt Ma và Tổ sư Tì Ni Đa Lưu Chi. Hầu hết các tượng thờ đều được tạc vào thời Thiền sư Minh Lý trụ trì (1871-1889).
Chùa đã được chúa Nguyễn Phúc Chu ban tấm biển "Sắc Tứ Thập Tháp Di Đà Tự" treo giữa cửa chính ngôi chính điện, Hòa thượng Mật Hoằng trùng khắc lại năm 1821. Đại hồng chung (đúc năm 1893) và trống lớn được đặt ở hai đầu hành lang.
Phía sau chính điện có tấm bia ghi bài minh Sắc tứ Thập Tháp Di Đà Tự bi minh do cư sĩ Dương Thanh Tu biên soạn, Hòa thượng Minh Lý lập năm 1876.
Nhà phương trượng nằm sau ngôi chính điện do Quốc sư Phước Huệ cho xây vào năm 1924. Nhà Tổ ở phía Nam, nối ngôi chính điện và nhà phương trượng, thờ Tổ khai sơn Nguyên Thiều và chư vị trụ trì, chư Tăng quá cố và chư Phật tử quá vãng.
Đối diện nhà Tổ là giảng đường, ở đây có bảng gỗ ghi bài "Thập Tháp Tự Chí" do Thị giảng Học sĩ phủ An Nhơn Võ Khắc Triển soạn năm 1928, ghi lại lịch sử khai sáng, quá trình xây dựng và truyền thừa của ngôi tổ đình Thập Tháp.
Đặc biệt, chùa còn lưu giữ 2.000 bản khắc gỗ dùng in kinh Di Đà sớ sao, Kim Cang trực sớ, Pháp Hoa khóa chú ... Bộ Đại Tạng Kinh do Tổng trấn Hà Tiên Mạc Thiên Tứ cúng dường còn 1.200 quyển kinh, luật, luận và ngữ lục. Chùa còn lưu giữ  bộ Đại Tạng Kinh Cao Ly và bộ Đại Tạng Kinh Đài Loan.
Vườn tháp Tổ nằm ở phía Bắc với 20 ngôi tháp cổ kính an trí nhục thân của các vị trụ trì và chư tôn túc trong chùa. Sau chùa, còn có tháp Bạch Hổ và tháp Hội Đồng.. 

Cách ngôi chùa Hương Quang (Tây Sơn, Bình Định), nơi có hòn đá kê đầu người cho voi dẫm, khoảng 10km, có một ngôi chùa cổ, hiện đang lưu giữ một phiến đá lớn, mà theo truyền thuyết, là nơi chúa Nguyễn Ánh cho quân lính kê đầu người xử chém.
Hòn đá ấy chất chứa oan hồn khủng khiếp, từng khiến quân lính trong thành một thời hoang mang tột độ.
Cho đến nay, chỉ duy nhất một người biết rằng, hòn đá ấy chính là một viên ngọc khổng lồ, cực kỳ quý hiếm.
Hiện hòn đá chất chứa oan hồn đó ở chùa Thập Tháp Di Đà (thôn Vạn Thuận, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, Bình Định).
Khối bạch ngọc khổng lồ
Sau khi VTC News đăng bài về hòn đá kê đầu cho voi dẫm đạp ở chùa Hương Quang (Tây Sơn, Bình Định), thì nhà nghiên cứu Nguyễn Vĩnh Hảo tiết lộ còn hòn đá nữa, mà Nguyễn Ánh dùng làm vật kê đầu chém nhà Tây Sơn. Nhà nghiên cứu Nguyễn Vĩnh Hảo là Giám đốc Bảo tàng Gò sành của người Chăm cổ, là bảo tàng tư nhân, và cũng là nhà sưu tầm đồ cổ hàng đầu ở đất Bình Định.
Theo anh Vĩnh Hảo, từ lâu, giới săn lùng đồ cổ đã để ý tới hòn đá ở chùa Thập Tháp và những kẻ tinh quái đều biết hòn đá đó là một vật quý.
PV bên hòn đá chặt đầu người ở chùa Thập Tháp  Từ cách nay 20 năm, Nguyễn Vĩnh Hảo đã biết hòn đá đó là viên bạch ngọc khổng lồ, cực kỳ quý hiếm. Hòn đá ấy, theo truyền thuyết, thì chất chứa biết bao oan hồn. Nhiều người kinh sợ không đám đến gần hòn đá ấy, nhưng Nguyễn Vĩnh Hảo thì bị hòn đá hút hồn suốt nhiều năm.
Thi thoảng, như có điều gì đó thôi thúc, anh lại phóng xe máy vượt quãng đường hơn 20 cây số từ Quy Nhơn về chùa Thập Tháp để chiêm ngưỡng hòn đá. Từng đường nét, đặt biệt là cái màu trắng mịn tinh khôi, không có dấu vết thời gian, như thôi miên Nguyễn Vĩnh Hảo. Anh ngắm hòn đá cả ngày không biết chán.
Giới săn lùng cổ vật đều có mơ ước khênh được viên bạch ngọc khổng lồ với truyền thuyết rùng rợn ấy về nhà mình. Nhưng, nó là thứ của nhà chùa, lại vô cùng linh thiêng, nên chẳng ai dám đụng đến.
Là người có 20 năm nghiên cứu, tìm hiểu về hòn đá, nên ở đất Bình Định này, không ai hiểu hòn đá hơn Nguyễn Vĩnh Hảo.
Xưa kia, vùng thị xã An Nhơn bây giờ, là thành Đồ Bàn, trung tâm của vương triều Vijaya của người Chăm. Vương triều Vijaya sụp đổ, nhà Tây Sơn đã cho xây dựng thành Hoàng Đế tại địa điểm này.
Tháp mộ trong chùa Thập Tháp  Phía bắc thành Đồ Bàn có ngôi chùa tên là Thập Tháp Di Đà, thường gọi tắt là chùa Thập Tháp, vẫn tồn tại đến ngày nay.
Cách nay 200 năm, chúa Nguyễn Ánh đã đánh chiếm thành Hoàng Đế, tiêu diệt nhà Tây Sơn. Chúa Nguyễn Ánh đã mở cuộc trả thù vô cùng hèn hạ và tàn khốc.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Vĩnh Hảo được các cụ già ở An Nhơn kể lại rằng, Nguyễn Ánh đã phát lời chiêu dụ, kêu gọi những người họ hàng, thân tộc nhà Tây Sơn, cả quân lính theo nhà Tây Sơn ra đầu thú, sẽ được khoan hồng, trọng dụng. Những người có tội nặng cũng được tha mạng, nhưng sẽ phải vào miền Nam khai khẩn ruộng đất, mở mang bờ cõi.
Nguyễn Ánh cũng tuyên bố rằng, nếu ai cố tình trốn tránh, hoặc có ý định tìm cách báo thù sẽ giết không tha, tru di cửu tộc.
Tin lời Nguyễn Ánh, những người thân nhà Tây Sơn, những người trung thành với nhà Tây Sơn đã kéo nhau ra trình diện, số lượng đến cả ngàn. Thế nhưng, khi đã bắt hết được những người thân cận nhà Tây Sơn, thì Nguyễn Ánh trở mặt nuốt lời.
Hòn đá chặt đầu người là khối bạch ngọc khổng lồ  Chúa Nguyễn sai quân lính kiếm một hòn đá thật cứng, bền, đẹp, chất liệu quý để làm giá kê đầu xử chém. Chúa Nguyễn muốn hòn đá đó phải tồn tại mãi với thời gian, để người đời sau đều biết hình phạt nghiêm khắc cho kẻ mà Nguyễn Ánh cho là phản bội.
Quân lính đã dùng voi kéo về một hòn đá khổng lồ, với chất liệu là ngọc quý đó về cổng thành. Dao kiếm chém vào hòn đá đó chỉ mẻ lưỡi, chứ hòn đá tuyệt nhiên không sứt mẻ.
Quân lính đặt hòn đá ngay trước cổng thành, lôi từng người trong gia tộc, thân cận với nhà Tây Sơn, kê đầu họ lên rồi vung đao chém. Bất kẻ già, trẻ, trai, gái, đều đầu lìa khỏi cổ trên hòn đá ấy.
Hàng ngàn người vô tội, mang cái án “kẻ thù xưa” đã phải chết một cách oan uổng. Nỗi oán hờn của họ với vị bạo chúa này ám vào hòn đá không thể nào thoát ra được.
“Oan hồn” trong khối ngọc
Truyền thuyết kể lại rằng, sau khi chém đầu xong cả ngàn người, quân lính đã khênh hòn đá ra khỏi cổng thành Hoàng Đế. Thế nhưng, điều kinh hãi là cả trăm quân lính xúm vào khiêng, hòn đá không hề dịch chuyển, như thể có chân bám sâu vào đất.
Lời đồn oan hồn ẩn trong hòn đá, khiến những người làm nhiệm vụ chặt đầu người thân nhà Tây Sơn vô cùng sợ hãi. Nhiều người phát điên. Có người chết bất đắc kỳ tử. Có người bỏ xứ đi đâu không rõ.
Không tin hòn đá có oan hồn, chúa Nguyễn Ánh đã dùng voi kéo hòn đá đi. Thế nhưng, dù cả chục con voi cột vào dây thừng, vẫn không sao kéo hòn đá ra khỏi chỗ đã giết những người vô tội. Có trường hợp, con voi bỗng nổi điên, dứt dây thừng bỏ chạy, dẫm đạp chết cả người.
Một góc chùa Thập Tháp  Điều kinh dị, là đêm đêm, từ hòn đá vang ra những tiếng khóc ai oán của những người trước lúc bị chặt đầu, như thể hòn đá ấy ghi lại tiếng khóc, rồi phát ra đêm đêm.
Người ta còn đồn rằng, về khuya, có một cái đầu lâu chui ra từ hòn đá. Cái đầu lâu ấy cứ lăn lóc đến từng nhà viên quan có chức sắc ở trong thành và đập vào cửa bình bịch, phát ra lời đòi mạng thống thiết.
Vậy nên, cứ đêm xuống, cửa rả nhà dân, nhà quan đều đóng kín. Ban đêm không ai dám đi qua khu vực cổng thành. Quan lại, dân chúng trong vùng sợ hãi, nhiều lần lập đàn cầu siêu cho các oan hồn, nhưng chẳng ăn thua gì. Các oan hồn vẫn không siêu thoát được khỏi hòn đá.
Không còn cách nào khác, quan quân đều bỏ thành Hoàng Đế, chuyển đi nơi khác. Thành Hoàng Đế trở nên hoang tàn, lạnh lẽo, nơi chỉ có ma quỷ, oan hồn vất vưởng ở đó.

















































Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét