Thứ Năm, 31 tháng 1, 2019

Những câu thơ mùa xuân bất tử



Trải qua mùa đông rét mướt, cây lá trơ trụi, muông thú ngủ đông, tránh rét, con người cũng thu mình lại lạnh lẽo cô đơn, mùa xuân đến, tiết trời chuyển ấm áp, cây nảy chồi xanh lộc biếc, muôn hoa đua nở, nắng xuân ươm vàng góc phố, gió xuân mơn man thịt da, chim chóc lượn vòng véo von ca hát. Vạn vật bừng thức, hồi sinh, mang đến cho con người sự vui tươi, ấm áp. Có lẽ vì thế mà mùa xuân được chọn làm mùa khởi đầu của một năm cũng là mùa đẹp và nhiều ý nghĩa nhất. Chính vì vậy, mùa xuân luôn mang lại nguồn cảm hứng vô tận cho mọi thi nhân.

Các nhà thơ danh tiếng của Việt Nam từ cổ chí kim dường như không ai không có một đôi câu, đôi bài về mùa xuân.
Nói đến thơ xuân, trước hết phải nhắc tới những câu thơ của Thiền sư Mãn Giác (1052 - 1096) trong bài “Cáo tật thị chúng”
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
Dịch
Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu, già đến rồi
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua - sân trước - một cành mai
Hàng ngàn năm qua bài thơ tổng kết về quy luật của trời đất và con người đó vẫn vang vọng mãi trên thi đàn dân tộc.
Các vua thời nhà Trần không chỉ là những bậc vua anh minh giỏi cầm quân đánh giặc, trị nước mà còn là những nhà thơ lớn. Riêng vua Trần Nhân Tông đã có đến cả chục bài thơ xuân. Trong đó có bài thơ “Cảnh xuân” còn lưu truyền đến ngày nay:
Trong khóm hoa dương liễu rậm rạp, tiếng chim hót lời chậm rãi, 
Dưới bóng hiên nhà trưng bày tranh vẽ, bóng mây chiều lướt bay. 
Khách đến chơi không hỏi việc đời, 
Cùng đứng tựa lan can ngắm màu xanh biếc trên trời
Mùa xuân không chỉ làm xao xuyến tâm hồn của những thi nhân rảnh rỗi đã gác bỏ mọi việc trần thế tìm đến nơi yên tĩnh, tu tâm, tĩnh khí, sống theo bản ngã của mình mà những nhà chính trị, quân sự tài ba như Nguyễn Trãi cũng vẫn bị cái đẹp tươi mát của mùa xuân mê hoặc để mà thốt lên:
Sắc xuân bên mắt khiến người say
(Đêm đậu thuyền ở cửa biển)
Cỏ xanh như khói bến xuân tươi
Lại có mưa xuân nước vỗ trời
(Bến đò xuân đầu trại)
Trong Truyện Kiều, đại thi hào Nguyễn Du có hàng chục lần nhắc đến mùa xuân. Những câu thơ mùa xuân của ông tuy buồn kiểu:
Cỏ non xanh rợn chân trời
Cành lê trắng điểm một vài 
bông hoa
Hay nhưng cũng vô cùng đẹp đẽ và câu thơ tuyệt mỹ:
Cỏ biếc lòng đau trời Nam phố
Mai vàng chi nữa chúa Xuân ơi!
(Ngày xuân ngẫu hứng làm thơ)
Đã trở thành câu thơ mùa xuân kinh điển, mà dường như không một người Việt Nam nào không thuộc.
Cùng thời với Nguyễn Du, bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương, một con người thông minh trác tuyệt, tài năng hơn người luôn ngạo nghễ cười cợt, khinh khi mọi sự cũng không phải không bị cái sự linh thiêng của thời khắc giao mùa tác động. Từ
Êm ái chiều xuân tới Khán Đài
Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai
(Chơi khán đài)
Tới những câu thơ tả cảnh đi chùa, lễ hội xuân trong “Đánh đu”, “Động Hương Tích” hay sự so sánh giữa vẻ đẹp của mùa xuân với thiếu nữ trong tranh
Ấy bao nhiêu tuổi hỡi cô mình
Chị cũng xinh mà em cũng xinh
Trăm vẻ như in tờ giấy trắng
Ngàn năm còn mãi cái xuân xanh
(Đề nhị mỹ nhân đồ)
Đều cho thấy tâm hồn nữ sĩ đã từng rất mềm yếu trước nàng xuân.
Các nhà thơ tài danh đầu thế kỷ 20 như Tản Đà, Nguyễn Khuyến, Tú Xương… đều có những bài thơ xuân đặc sắc.
Nếu như Tản Đà thường xuyên khai bút bằng thơ xuân với những vần thơ tự trào, lúc mang tiếng cười vui với phong thái tự tin đến ngông nghênh.
Gặp xuân ta giữ xuân chơi 
Câu thơ chén rượu là nơi đi về 
Hết xuân, cạn chén, xuân về 
Nghìn thu nét mực xuân đề vẫn xuân!
(Gặp xuân)
Khi lại mang nỗi hồ nghi, buồn nản, bất đắc chí của kẻ sĩ sinh bất phùng thời.
Ngày xuân như ngựa, đầu xanh bạc
Chán cả giang hồ, hết cả ngông.
(Tiễn ông Công lên chầu giời)
Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến cũng có rất nhiều bài thơ, câu đối xuân. Thơ xuân Nguyễn Khuyến thường mang một dư vị, dáng vẻ riêng đằm thắm, sâu sắc và phảng phất buồn:
“Mong xuân, xuân đến không hay
Hạt mưa lất phất từng mây im lìm” 
(Xuân Nhật - số 3)
“Năm mới đến, năm cũ qua
Mọi người vui vẻ sao ta riêng buồn”
(Xuân Nguyễn hữu cảm)
Tầng lớp bình dân ưa vui đùa thì lại thích những bài thơ xuân, tết vô cùng độc đáo, hài hước của Tú Xương:
Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang: 
Đứa thì mua tước, đứa mua quan. 
Phen này ông quyết đi buôn lọng, 
Vừa bán vừa la cũng đắt hàng
(Chúc tết)
Mùa xuân là mùa của sự tươi mới nên nhắc nhiều đến xuân nhất phải là các nhà thơ trong phong trào Thơ Mới (1930 - 1945). Nếu như có những thi sĩ nổi tiếng với hàng chục bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của mùa xuân, ngày tết như Đoàn Văn Cừ với Nắng xuân, Chơi xuân, Chợ tết, Đám cưới mùa xuân, Tết… hay Anh Thơ với Chiều xuân, Ngày xuân, Đêm xuân, Ngày tết, Chiều 30 tết… thì cũng có những người được nhắc đến mãi chỉ bởi một bài thơ như tác giả Vũ Đình Liên:
“Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực Tàu, giấy đỏ
Bên phố đông người qua
… Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
(Ông đồ)
Những nhà thơ lừng danh trong phong trào Thơ Mới như Nguyễn Bính, Hàn Mạc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên… đều có những bài thơ đặc sắc về xuân, về tết. Nếu Nguyễn Bính đón xuân về với tiếng reo vui nơi thôn quê:
“Đã thấy xuân về với gió đông
Với trên màu má gái chưa chồng
Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm
Ngước mắt nhìn giời đôi mắt trong…
Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng
Ngào ngạt hương bay, bướm 
vẽ vòng…
(Xuân về)
Đây cả mùa xuân đã đến rồi
Từng nhà mở cửa đón vui tươi
Từng cô em bé so màu áo
Đôi má hồng lên nhí nhảnh cười
(Thơ xuân)
Thì Xuân Diệu lại thấy xuân luôn có sẵn trong lòng:
Xuân của đất trời nay mới đến
Trong tôi xuân đến đã lâu rồi
(Nguyên đán)
Và ông cũng luôn giục mình, giục người “mau lên chứ, vội vàng lên với chứ” vì thấu hiểu quy luật:
“Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
(Vội vàng)
Nhưng có lẽ những câu thơ mùa xuân được các thiếu nữ nhắc đến nhiều nhất trong dòng thơ mới lại là những câu hỏi ám ảnh trong thơ Hàn Mạc Tử:
Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời. 
Bao cô thôn nữ hát trên đồi. 
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy, 
Có kẻ theo chồng, bỏ cuộc chơi.
Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông vắng nắng chang chang
(Mùa xuân chín)
Mùa xuân như chiếc đũa thần biến nàng Lọ lem xó bếp thành công chúa Lọ lem xinh đẹp làm động lòng không chỉ những thi sĩ vốn có tâm hồn phiêu du với trời, trăng, mây, nước mà cả những nhà thơ cách mạng:
Dùng ngòi bút làm đòn xoay chế độ
Mỗi vần thơ bom đạn phá 
cường quyền”
(Là thi sĩ - Sóng Hồng)
Có thể nói Hồ Chí Minh và Tố Hữu là đại diện cho những nhà thơ này khi giữ kỷ lục về số lượng những bài thơ xuân hay nhất. Thơ xuân Tố Hữu thường là những khúc ca hào sảng ca ngợi cảnh đẹp quê hương đất nước:
Cành táo đầu hè rung rinh quả ngọt 
Nắng soi gương giọt long lanh... 
...
Ôi tiếng hót vui say con chim chiền chiện
Trên đồng lúa chiêm xuân chao mình bay liệng
Xuân ơi xuân, vui tới mông mênh
(Bài ca mùa Xuân 1961)
Thơ xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có những bài như thế nhưng phong phú và đa dạng hơn nhiều. Thơ xuân của Bác thường được chia làm 2 mảng: Thơ xuân và thơ chúc tết. Nếu những bài thơ chúc tết của Người thường là những lời kêu gọi, chúc tết với lời thơ rất gần gũi, thân thương, chân thành, ý nghĩa, dễ nhớ, dễ thuộc nói theo lời Bác chỉ là “Mấy câu thành thật nôm na/ Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân” như:
Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà,
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!
(Thơ chúc Tết Xuân Mậu Thân 1968)
Thì những bài thơ xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh thường lại vô cùng tinh tế, sâu sắc và hàm chứa nhiều triết lý sâu xa, xứng đáng là những bài học tư tưởng có giá trị nghệ thuật cao.
Nếu không có cảnh Đông tàn
Thì đâu có cảnh huy hoàng 
ngày Xuân
Nghĩ mình trong bước gian truân
Gian nan rèn luyện tinh thần thêm hăng
(Tự khuyên mình) 
Và một trong những bài thơ xuân nổi tiếng ấy đã trở thành bài thơ khai hội thơ Việt Nam hàng năm; bài “Rằm Nguyên tiêu” được viết ở chiến khu Việt Bắc năm 1948:
Rằm Xuân lồng lộng trăng soi
Sông Xuân nước lẫn màu trời thêm Xuân
Giữa dòng bàn bạc việc quân,
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền
(Bản dịch của Xuân Thủy)
Rõ là một bức tranh thủy mặc đẹp đến nao lòng: Dòng sông, mặt nước, con thuyền và nhất là ánh trăng rằm lung linh được tắm trong sắc xuân rực rỡ sống động, thanh khiết, tươi mới. Lại nữa, công việc cũng đã bàn xong, tâm hồn đang thơ thới. Cảnh đã đẹp, lòng lại yên hợp lại thành buổi tao ngộ viên mãn giữa trời, trăng, mây, nước, con người. 
Với hình ảnh thơ vô cùng độc đáo, bức tranh mùa xuân quyến rũ trong “Rằm tháng giêng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh xứng đáng là một kiệt tác về mùa xuân của nền thơ ca Việt Nam.

Thứ Năm, 15 tháng 6, 2017

văn hóa Huế

Nhiều tác giả viết về văn hóa Huế có lưu ý đến vấn đề này. Nhưng nghiên cứu kỹ tại thực địa thì hầu như chưa có ai. Chính thực địa cho ta biết rõ và chính xác hơn một vài sự khác biệt để ta có thể hiểu rõ thêm về văn hóa sâu rộng của đất thần kinh.
1- TỨ
Đây là bộ tranh cổ truyền, thường gồm ba bộ, có sự khác biệt rõ trong các bộ tranh này. Nếu ta không chú ý thường rất dễ nhầm lẫn
a- Tứ hữu (4 người bạn) Mai, Lan, Cúc, Trúc
b- Tứ thời (4 mùa) Mai, Liên, Cúc, Tùng Xuân, Mai đi với chim (Mai Điểu) Hạ, Liên (Sen) đi với vịt (Liên Áp) Thu, Cúc đi với bướm (Cúc Điệp) Đông, Tùng đi với hạc (Tùng Hạc) Tất cả bức tranh tứ thời được ghép bằng sành sứ rất mỹ thuật trong Khải Thành Điện trên Ứng Lăng (Lăng vua Khải Định).
c- Tứ quý (Les quatres nobles) Mai, Liên, Cúc, Trúc.
2 – NGŨ
Có nhiều loại ở đây chúng tôi xin được nhắc đến ngũ phúc và ngũ quả.
a- Ngũ phúc: Con dơi đóng vai trò quan trọng trong trang trí Huế, nó biểu trưng cho hạnh phúc. Trong tiếng Hán Việt phúc (dơi) khi được đọc lên nghe như âm phúc trong hạnh phúc nên người ta mượn hình ảnh của con dơi để diễn tả hạnh phúc.
Dơi có thể ngậm khánh (đá). Khánh cũng có nghĩa là vui mừng. Vậy dơi ngậm khánh đá có nghĩa là đại hạnh phúc cũng có nghĩa là song hỷ (double happiness).
Dơi ngậm thọ có nghĩa là hạnh phúc và trường thọ.
Dơi ngậm giỏ hoa một trong bát bửu tượng trưng cho lạc thú và hạnh phúc.
Dơi cũng ngậm tua quả (dơi tua) và nút thiêng (là những điềm lành trong Phật giáo) thường được trang trí ở sập.
Dơi còn được trang trí trong các Đình, Chùa, Phủ đệ … và được tượng trưng cho phúc thần.
Ngũ phúc là 5 con dơi tượng trưng cho:
– Thọ
– Phú
– Khang ninh
– Du hảo Đức
– Khảo chung mệnh (chết già, tự nhiên không đau ốm, còn có nghĩa là chết theo thứ tự, ông rồi đến cha…)
b- Ngũ quả: Mâm ngũ quả không nhất thiết phải đủ 5 loại quả, có thể ít hơn hoặc nhiều hơn.
Mâm ngũ quả không có trong bàn thờ Tết (khác với tiết) của người Trung Hoa.
Họ chỉ sử dụng những quả sau để suy đoán sự được mùa của ngũ cốc.
Mận chủ về Đậu
Hạnh chủ về lúa Mì
Đào chủ vẽ Liễu Mạch
Lật (hạt dẻ) chủ về Nếp hương
Táo chủ và lúa (Chiêm Thư)
Chúng ta cũng biết số 5 ở giữa Lạc Thư nên số 5 được dùng để chỉ Trung tâm và Ngũ quả tượng trương cho sự đầy đủ của lễ vật.
vanhoahue-2
vanhoahue-3
Vào đời nhà Hạ, vua Vũ khi đi trị thủy thấy một con rùa nổi lên mặt nước khi trở về nhà Vua đã vẽ lại những gì thấy trên con rùa và phân chia làm 9 loại (xem hình vẽ). Đây là nhan đề các chương trong Thư Kinh: Ngũ Sự, Ngũ Hành, Tam Đức, Lục Cực, Tứ Chứng…Ngũ Phúc, Ngũ Ký 2.
Tất cả những điểm trên con rùa tạo thành một hình vuông. Triết lý Trung Hoa dựa và Lạc Thư cho là quả Đất có hình vuông!
Những ngũ quả Huế có gì đặc biệt
Nhìn lại mâm ngũ quả trên Xương Lăng (tranh gương), trên Ứng Lăng (ghép sành sứ) và dựa vào sách vở xưa ta thấy ngũ quả ở Huế thường là:
Quả Lựu, quả Mãn Cầu, quả Lê, quả Đào, quả Phật thủ, quả Dưa…
Nhưng vấn đề đặt ra cho chúng ta là tại sao lại là những quả này; điều đáng lưu ý thêm là trong trang trí cách điệu (hóa) ở Huế. Lê hóa Kỳ lân, Đào hóa Rùa, Phật thủ hóa Đầu rồng nhìn chính diện, Mãn cầu hóa Phượng và theo những nghệ nhân xưa ở Huế 4 loại này là Tứ hữu.
– Lựu, Mãn cầu: nhiều hạt, hạt trong tiếng Hán Việt là tử, tử cũng có nghĩa là con, vậy Lựu, Mãn cầu trong mâm ngũ quả Huế hàm nghĩa đa tử, đa tôn, đa phú quý. Ở Trung Hoa Lựu còn được tượng trương cho đôi tân hôn, biểu tưởng cho hạnh phúc.
– Lê: Lê tử cũng là bằng chứng nhiều con, ở Trung Hoa, Lê tử được phát âm như “Lập tử” nghĩa là tạo hậu duệ, điều quan trọng nhất trong Khổng giáo
– Đào: Tượng trương cho sự trường thọ (tích Tây Vương Mẫu dâng 7 quả đào tiên cho Hán Vũ Đế).
– Dưa cũng tượng trương cho sự phì nhiêu, sinh nở vì nhiều hạt (tử)…
3- BÁT (BỬU)
Kể trong những họa tiết trình bày những vật vô tri, bát bửu thấy được sử dụng trên xà nhà, Panô ở tường, đôi khi trên những đồ đạc trong nhà hoặc trên tráp.
Điều đáng nói là bát bửu không cố định nhất là trong trang trí Huế (thay đờn bằng mao tiết, tượng trưng cho vua như trên Ứng Lăng).
Vậy là mỗi một tác giả lại thêm vào hoặc bớt ra một vài loại và đến các nghệ nhân lại cũng như vậy.
– Bát bữu theo P. Huỳnh Tịnh Của.
+ Bầu trời (la Calebasse)
+ Quạt vả (quạt có hình lá vả)
+ Gươm
+ Đờn
+ Tháo sách (bó sách)
+ Tháp viết
+ Quyển sáo
+ Chủ phất (phất trần)
Theo Tissot trong Cours Supérieur d’Anamite (1909) Bát bữu ở Bắc Kỳ:
+ Pho sách
+ Như ý
+ Quần thơ
+ Cái Lẳng
+ Bầu rượu (la Calebasse)
+ Cái đàn
+ Cái quạt
+ Phất trần
Theo E.G. Dumoutier (1891) Bát bửu gồm có:
+ Đôi sáo
+ Cuốn thư
+ Đàn tì bà
+ Lang (lẳng)
+ Quạt
+ Pho sách
+ Khánh
+ Quả bầu
Cũng theo E.G. Dumoutier 3 trong bát bửu sáo,đàn khánh, nhạc cụ tượng trưng cho bát âm (bào, thổ, cách, mộc, thạch, kim, ti, trúc) (thính).
Hiện nay khánh không còn được coi như cổ đồ trong các đền, chùa … nhưng vẫn đứng đấu trong các dụng cụ âm nhạc.
Bát bửu, ghép sành sứ ở Khải Thành Điện (Ảnh Dương Đình Châu)
Lẳng hoa tượng trưng cho sự trổi dậy của mùa xuân sau mùa đông ảm đạm, sự bừng nở của tuổi trẻ, sự hoan lạc (khứu, thị). Quạt là làn gió nhẹ xua đi sự oi bức của mùa hè và tượng trưng cho cái duyên phụ nữ.
Cuốn thư tượng trưng cho văn chương.
Sách tượng trưng cho sự hiểu biết.
Trái bầu tượng trưng cho sự bình phục khỏi bệnh do ngày xưa người Trung Hoa đựng các vị thuốc trong trái bầu. Trái bầu còn là biểu tượng của hạnh phúc, ngày xưa rượu hợp cẩn được chứa trong ½ trái bầu. Trái bầu còn là vật mang lại hạnh phúc, xưa kia người Trung Hoa thường mang trên người trái bầu bằng gỗ liễu, trái bầu còn là vật phát ra âm thanh. Trong phật giáo trái bầu là vật tích thiện, tích đức, tích phúc …
Bát bửu thường để trong đình, chùa, đền, miếu…
Bát bửu có nguồn gốc Trung Hoa cũng như hầu hết những trang trí ở An Nam.
Trong cuốn nghệ thuật Trung Hoa. Bushell đã viết bát bửu tượng trưng cho Lão giáo.
– Quạt của Chung Ly Quyền (Hán Chung Ly) làm hồi sinh những linh hồn đã chết.
– Kiếm có thần lực (Lã Đông Lân)
– Trái bầu thần bí (Lý Thiết Quài)
– Đôi xênh (Tào Quốc Cậu)
– Lẳng hoa (Lâm Thái Hòa)
– Gậy (Trương Quả Lão)
– Ống Tiêu (Hàn Tương Tử)
– Hoa sen (Hà Tiên Cô)
Nghệ thuật trang trí Huế chịu ảnh hưởng nặng nề của Trung Hoa vô cùng đa dạng từ vật vô tri cho đến hoa, lá, cành, quả; tứ linh (long, ly, qui, phụng); con dơi, con sư tử, con cá cho đến tranh phong cảnh.
Đây là loại hình nghệ thuật rất đa dạng có tính bác học ngay cả với những người có ít nhiều kiến thức.
Ví dụ như thật khó phân biệt đâu là Kỳ, Lân, Long Mã, Nghê … hoặc phân biệt giữa Rồng, Giao và Cù … cũng như Tứ hữu, Tứ thời, Tứ quý…
Nhưng dần dần loại hình nghệ thuật này đã lan tỏa trong dân gian lại được các nghệ nhân thể hiện theo ý tưởng của mình nên nghệ thuật này ngày càng phong phú về hình thể cũng như về ý nghĩa.

1 Viết và phóng dịch theo :
  • Linh Mục L. Cadière (l’Art à Hué)- E.G. Dumoutier (Les Symboles, Les Emblèmes et Les Accessoires du culte chez les Anamites, 1891)- P.Huard & M.Durand (Connaissance du Viet Nam)- P. Huỳnh Tịnh Của (Đại Nam Quốc Âm Tự Vị)- Huỳnh Ngọc Trảng (Mâm ngũ quả ngày Tết) – Thực địa tại Xương Lăng và Ứng Lăng …
2 E.G.Dumoutier, sđd trang 29 5

Thứ Tư, 14 tháng 6, 2017

Đề tài trang trí trong kiến trúc truyền thống

hình tượng trang trí thường gặp trong kiến trúc cổ truyền thống từ Bắc tới Nam, mang đậm ảnh hưởng của Phật Giáo và một số đạo khác như Đạo Giáo, Nho giáo.
Đề tài trang trí trong kiến trúc truyền thống
Trong các công trình kiến trúc gỗ truyền thống tại Việt Nam nhất là đối với các công tình mang yếu tố tôn giáo và tín ngưỡng như đình, đền, chùa , miếu... thì mảng điêu khắc được đánh giá là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất tạo nên vẻ đẹp cho công trình. Em xin giới thiệu đến các anh chị các hình tượng trang trí thường gặp trong kiến trúc cổ truyền thống từ Bắc tới Nam, mang đậm ảnh hưởng của Phật Giáo và một số đạo khác như Đạo Giáo, Nho giáo.
Các hình tượng trang trí đơn lẻ

Con rồng
các dạng trang trí hình rồng phát triển theo từng thời kỳ, mang những đặc điểm mỹ thuật khác nhau. Trong kiến trúc Phật giáo Việt Nam, hình tượng con rồng cũng được phát hiện từ những di vật còn lại từ thời Lý.

Con rồng thể hiện cho tâm linh, gắn liền với vua (theo quan niệm phong kiến), biểu hiện ước mong mưa rhuận gió hoà (dân gian). Trang trí trên bệ tháp, cấu kiện gỗ, đỉnh mái... Những di tích như chùa Dạm (Bắc Ninh), chùa Long Ðọi ( Hà Nam)...



H1a. Rồng chạm đầu dư


H1b. Rồng trang trí trên cửa

Con lân

Được gọi đầy đủ là kỳ lân (còn gọi là con nghê, con ly và dân gian gọi là con sấu). Hình tượng con Lân được định hình từ thời Lý và phát triển cho đến suốt thời Nguyễn.
Kỳ lân là phát triển của long mã, biểu tượng cho sự kết hợp thời gian và không gian, cho sự an bình. Trang trí trên cấu kiện gỗ (gặp ở nhiều chùa), thành bậc (chùa Bà tấm, Hà Nội), tượng tròn (chùa Phật Tích, Bắc Ninh).



H2. Tượng lân đá tại chùa Phật Tích

Rùa: ít gặp trong kiến trúc Phật giáo
Biểu trưng cho sự bền vững của xã tắc (trong phạm vi cung đình) và sự sống lâu, trường thọ (dân gian), Thường thấy sử dụng như con vật đỡ chân bia tại các chùa.



H3. Rùa đội bia
Chim Phượng: ít gặp trong điêu khắc Phật giáo.
Chim Phượng không gắn nhiều với Phật giáo mà chỉ tượng trưng cho điềm lành, mỗi khi xuất hiện thì báo hiệu đất nước thái bình, phồn thịnh, vẻ đẹp của phụ nữ... Thường được chạm khắc trên cốn, thành bậc, đầu dư, đầu đao...


H4. Đầu đao hình chim Phượng

Hoa sen: Từ thời Lý đã sử dụng hoa sen trong biểu tượng chùa Một Cột, bệ tượng Phật A Di Ðà chùa Phật Tích.
Biểu hiện cho sự trong sạch thanh cao, biểu tượng cho sự thanh tịnh của Phật giáo. Ðỉnh tháp, chân tảng, bệ Phật, diềm bia.



H5. Trang trí hoa sen trên chân tảng

Hoa cúc:
Hoa cúc thời Lý Trần thường thể hiện với dạng dây lượn hình sin. Lúc đầu hoa cúc phổ biến ở Trung Quốc với biểu trưng Ðạo giáo, về sau ảnh hưởng vào Phật giáo như một biểu tượng bình dị, thanh cao, kín đáo và lâu bền.


H6. Trang trí hoa cúc chùa Phổ Minh

Lá đề:
Cây Bồ đề biểu trưng cho sự đại giác của đức Phật. được sử dụng rất nhiều trong trang trí điêu khắc như vòm cửa chùa tháp thời Lý.


H7. Trang trí lá đề tháp Bình Sơn - Vĩnh Phúc

Hình cá:
Tượng trưng cho sự giàu có, phồn thịnh hay gặp trong trang trí cấu kiện gỗ cùng sóng nước.


H8. Trang trí cá trên cốn gỗ

Con trâu:
Hình tượng trâu cũng xuất hiện từ thoì nguyên thuỷ trong văn hoá Hoà Bình. Và hình tượng trâu còn thấy được ở kiến trúc Phật giáo là bắt đầu từ thời Lý.
Con trâu rất có ý nghĩa trong nhà Phật, thể hiện qua bức tranh thập mục chăn trâu. Tượng tròn (chùa Phật Tích), lan can đá ( chùa Bút Tháp)



H9. Hình tượng con trâu lan can đá chùa Bút Tháp

Sư tử:
là đề tài trang trí phổ biến ở thời Lý hơn các thời sau này. Sư tử hí cầu nghĩa như vật bảo vệ giáo pháp.
Có thể gặp tượng sư tử ở chùa Hương Lãng, bệ có 2 con sư tử đỡ ở chùa Bà Tấm. Các chòm lông và đuôi sư tử thường xoắn lại theo kiểu trôn ốc hoặc xoè ra.


H10. Sư tử đá đỡ bệ tượng chùa Bà Tấm
Con hổ:
Nền văn hoá Ðông Sơn cách đây trên dưới 2500 năm đã xuất hiện rất nhiều tượng hổ. Thời Trần bắt đầu xuất hiện tượng hổ.
Theo tín ngưỡng của dân ta thì hổ tượng trưng cho vị thần bảo vệ, trấn giữ các phương chống lại mọi tà ma, đảm bảo cho cuộc sống phát triển. Bệ đá tam bảo ( chùa Ðại Bi Hà Tây), chạm khắc trên kẻ ( chùa Sơn Ðồng, Hà Tây), hai bên tam quan (chùa Long Tiên Quảng Ninh)


H11. Phù điêu hổ chùa ông Bổn - tp ****


Con ngựa: Thời Lý
Xuất hiện dưới dạng tượng tròn (chùa Phật Tích), lan can đá (chùa Bút Tháp). Theo Phật thoại, ngựa trắng khi không có người cưỡi là biểu tượng của Phật.


H12. Trang trí ngựa tường hồi chùa Hưng Ký


Nhạc công thiên thần (Gandharva)
Thời Lý - Mạc, ảnh hưởng ấn Ðộ giáo của người Chăm.
Thường gặp ở hình ảnh đoàn nhạc công tấu nhạc mừng Ðức Phật đản sinh


H13. Trang trí tại chùa Phật Tích

Nữ thần đầu người mình chim (Kinnarri)
được sử dụng trong thời Lý đến Mạc, ảnh hưởng ấn Ðộ giáo của người Chăm.
Có thể gặp ở những dạng tượng người chim chùa Phật Tích, chùa Long đọi, nữ thần đầu người mình chim.


H14. Nữ thần đầu người mình chim chạm trên cốn gỗ chùa Thái Lạc

Tiên nữ (apsara):
Thời Lý - Mạc, ảnh hưởng ấn Ðộ giáo của người Chăm.
Tiên nữ múa hát dâng hoa xuất hiện gắn liền với các sự kiện trong cuộc đời của đức Phật như đức Phật đản sinh, đắc đạo, nhập Niết Bàn... Ðiêu khắc trên cốn gỗ chùa Thái Lạc.


H15. Tiên nữ cưỡi Phượng chùa Thái Lạc

Chim thần Garuđa :
Thời Lý - Mạc. Hình tượng của ấn Ðộ giáo sử dụng trong văn hoá Chăm.
Tiêu biểu cho sức mạnh và chân lý . Thường gặp ở tư thế nâng đỡ góc đền tháp và bệ tượng.


H16. Chim thần bệ tượng chùa Bối Khê

Bánh xe pháp luân:
Sử dụng trong thời Nguyễn đến nay.
Biểu tượng sự giác ngộ của Ðức Phật và lần thuyết pháp đầu tiên của ngài. Trên mái các công trình, ví dụ như đầu đao chùa Quán Sứ.



H17. Bánh xe Pháp luân trang trí trên đầu đao viện đại học Vạn Hạnh

Hồi văn chữ Vạn, chữ công
Thường thấy trên bờ nóc mái, diềm bia, chạm trổ cửa.



H18. Chữ Vạn cách điệu cửa chùa Nành - Gia Lâm

Chữ Thọ, Hỉ
Thường sử dụng là cửa sổ , trang trí cửa đi cách điệu


H19. Cổng chùa Hưng Ký - Chữ Thọ cách điệu

Con người
Người đỡ toà sen chùa Dương Liễu thời Mạc. Vua đỡ bệ tượng Phật chùa Hoè Nhai


H20. Chạm người chùa Thái Lạc
Các mô típ trang trí thường gặp và đề tài trang trí phức hợp

Lưỡng long triều nhật (lưỡng long chầu nguyệt) ( sử dụng và phát triển từ thời Nguyễn về sau). Rồng chầu hoa cúc, hoa hướng dương đều là các dạng của lưỡng long triều nhật
ý nghĩa cầu trời mưa, hình tròn có ngọn lửa tượng trưng cho sấm sét, nguồn nước, mang đến mùa màng tươi tốt.. Hoa cúc và hoa hướng dương cũng được sử dụng tượng trưng cho mặt trời.


H21. Mô típ lưỡng long triều Nhật trên bờ nóc

Cá hoá rồng: thường gặp thời Nho học thịnh đạt, thời Nguyễn
Gợi nhớ đến sự đỗ đạt trong các kỳ thi và được Vua phong chức tước. Ðây là một minh chứng cho việc ảnh hưởng sâu sắc của trang trí đề tài Nho học vào Phật giáo.


H22. Cá hoá long bằng gốm thường gặp ở đình chùa miền Nam

Rồng hoá lá, rồng hoá cây...
Rồng thường thấy trong mô típ trang trí này là rồng hoá lá, rồng hoá cây hoặc cây hoá rồng, dây lá hoá rồng.


H23. Mô típ rồng hoá cây

Ngư long hí thuỷ
Rồng và cá chép vờn nhau trong sóng nước
Mô típ trang trí khá phổ biến trong trang trí đình chùa Bắc Bộ


H24. Trang trí trên cốn

Phúc khánh, Phúc thọ, Ngũ phúc
Hình con dơi ngậm chiếng khánh có tua có nghĩa là hạnh phúc và sung sướng. Hình con dơi kết hợp với chữ thọ biểu tượng cho sự hạnh phúc và trường thọ. Năm con dơi trên mộtbức chạm, tượng trưng cho sự chúc tụng đầy đủ nhất.


H25. Trang trí ngũ phúc trên cánh cửa
Bát bảo
gồm bầu, tháp bút, quạt vả, ống tiêu, giỏ hoa, cây kiếm, khánh, phất trần.
Là các trang trí mang tính chất Ðạo giáo, đôi lúc được sử dụng trong trang trí một số công trình chùa chịu ảnh hưởng nhiều từ Trung Quốc như chùa Hoa, chùa người gốc Hoa xây dựng...


H26. Kiếm và quạt trong trang trí chùa ông Bổn
Bát quả gồm đào, lựu, mận, lê, phật thủ, nho, bầu bí.


H27. Trang trí trên lan can chùa Vạn Niên - Tây Hồ - Hà Nội

Tứ quý gồm mai lan cúc trúc.
Thường gặp kết hợp mai điểu, mai hạc, lan điệp, cúc điệp, trúc tước, trúc yến hoặc trúc hổ.


H28. Trang trí cúc điệp trên cánh cửa

Tứ thời gồm mai, sen, cúc, tùng.
Ðồ án trang trí là mai điểu, liên áp, cúc điệp, tùng lộc hay tùnghạc. Trong trang trí chạm khắc các chi tiết kiến trúc như cửa võng, cánh cửa...


H29. Trang trí tùng hạc trên cánh cửa

Hoa sen kết hợp với hoa cúc: Thường gặp ở thời Lý
Tượng trưng cho âm dương giao hoà. Thường gặp ở trang trí diềm bia, chạm khắc trang trí trên tháp cổ.


H30. Trang trí hoa văn tháp Phổ Minh

Mây trời, sóng nước : Thời Lý, Trần
thường gặp ở trang trí hoa văn tháp cổ, bệ tượng Phật thời Lý.



H31. Sóng nước trên chân bệ tượng chùa Phật Tích

(trích phụ lục luận văn TLC)

Thứ Năm, 18 tháng 5, 2017

“giới tử thư” (thư dạy con)

Gia Cát Lượng đã viết trong “giới tử thư” (thư dạy con): “Làm theo đạo của người quân tử, tu thân thanh tịnh, cần kiệm để dưỡng đức, đạm bạc để nuôi dưỡng chí, tĩnh lặng để nghĩ xa.”

Thứ Hai, 15 tháng 5, 2017

Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc


Ngôi nhà 300 năm tuổi làm bằng gỗ lim ở vùng quê Kinh Bắc của dòng họ Nguyễn Thạc (làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh) dựng từ năm 1686, được UNESCO trao giải thưởng công trạng trong bảo tồn di tích.

Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc
Năm 1686, cụ Diệu Đình Hầu - Nguyễn Thạc Lượng và vợ là bà Nguyễn Thị Nguyện mang theo 8 bè gỗ lim từ Thanh Hóa về Đình Bảng (Bắc Ninh) để dựng nhà. Số gỗ này đủ dựng hai ngôi từ đường cho dòng họ Nguyễn Thạc, một khu nhà dành cho con trưởng của dòng họ và đình làng Đình Bảng. Cụ Lượng còn mang một cây gỗ nghiến cổ thụ để làm dùi, đục.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 1
Khu nhà của dòng họ Nguyễn Thạc xây dựng trong vòng 14 năm, từ năm 1686 đến năm 1700, gồm một khu thờ tự; một khu để ở, tiếp khách và bếp. Nhà trong ảnh vốn là nơi thờ tự của gia đình, còn nơi ở và tiếp khách là một nhà 7 gian khác phía sân trước mặt. Do hoàn cảnh khó khăn nên năm 1958, gia đình đã dỡ gian này để bán cho một đại gia ở Đồng Kỵ.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 2
Ông Nguyễn Thạc Sủng, đời thứ 10 sống ở đây, cho biết, thời Pháp thuộc, ngôi nhà bị chiếm đóng 6 năm. Sau năm 1954, bà con trở về quê cũ, làng mạc tan tác hết, chỉ còn ngôi nhà này vẫn chưa bị phá. Trải qua mấy trăm năm, căn nhà bị xuống cấp. Năm 1996, Đại học nữ Chiêu Hòa (Nhật Bản) đã đầu tư khoảng một tỷ đồng để trùng tu.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 3
Theo khảo sát của Nhật Bản, chỉ còn khoảng 10 ngôi nhà có niên đại 300 năm ở Việt Nam. Ngôi nhà của dòng họ Nguyễn Thạc tiêu biểu cho kiến trúc vùng Kinh Bắc, được làm hoàn toàn từ gỗ lim, có tới 60 cây cột, không có mối mọt và có thể chống được ẩm. Trước nhà có sân rộng, bể nước, vườn cây cảnh.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 4
Hiên nhà vừa là nơi hóng mát vào những ngày hè oi bức, vừa tránh mưa gió không hắt vào nơi ở. Mái nhà
dân gian thường lợp ngói vẩy cá, dốc 30 độ, giúp nước mưa dễ chảy xuống.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 5
Chi tiết hoa văn được chạm trổ với hình rồng, mây vờn, hoa lá. Các họa tiết có sự đồng điệu giữa cột cái,
cột quân và cột nghiêng trong một bộ vỉ kèo, từ đó dễ nhận biết được đặc trưng kiến trúc nhà ở dân gian
Bắc Ninh.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 6
Trải qua 314 năm, những chi tiết chạm trổ vẫn chắc chắn, không hề bị mối mọt.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 7
Nhà hiện có 7 gian, 3 gian chính giữa là nơi thờ tự, nơi quan trọng nhất trong nhà ở dân gian Bắc Bộ. Gian thờ chính nằm giữa với hoành phi, câu đối chạm khắc tỉ mỉ là nơi đặt bài vị của tổ tiên họ Nguyễn Thạc. Đây cũng là nơi trưng bày các sắc phong của triều Lê - Trịnh cho những người đỗ đạt trong dòng họ.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 8
Ngôi nhà của dòng họ Nguyễn Thạc có sử dụng hệ cột gỗ đỡ mái xây - một kỹ thuật xây dựng gây kinh ngạc với các kiến trúc sư Nhật Bản khi phục chế ngôi nhà. Hệ cột chịu lực đỡ mái làm từ một tấn vật liệu bao gồm gạch, ngói và chất kết dính.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 9
Các cây cột cái làm từ gỗ lim có đường kính 90 cm, cao 4,3 m. Trải qua 300 năm, một số cột bị hư hỏng.
Sau khi được Nhật hỗ trợ trùng tu, những cây cột này có thể trụ được vài trăm năm nữa.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 10
Nhà có 28 cánh cửa bức bàn. Thời Pháp chiếm đóng, 27 cánh cửa bị đốt. Về sau, cánh cửa duy nhất còn lại được
dùng làm nguyên mẫu để đóng những cửa khác.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 11
Tương truyền, tốp thợ Thanh Hóa được chọn để làm ngôi nhà và đình Đình Bảng. Năm đó, thợ cả mang theo
cậu con trai 5 tuổi, đến lúc xong ngôi nhà này và đình Đình Bảng, cậu bé đã sang tuổi 55.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 12
Dòng họ Nguyễn Thạc có 228 năm liên tiếp làm quan. Trải qua thời gian, dòng họ còn lưu giữ được nhiều tư liệu quý như 12 cuốn gia phả, 11 đạo sắc phong, 5 lệnh chỉ, hoành phi, câu đối... Ngôi nhà này cùng với đình làng Đình Bảng là những công trình kiến trúc tiêu biểu cho vùng Kinh Bắc.