Thứ Tư, ngày 23 tháng 11 năm 2016

SUY NGẪM VỀ TÍN NGƯỠNG NGƯỜI VIỆT
QUA ĐỀN, CHÙA VÀ LỄ HỘI

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Nguời Việt Nam ngày nay về cơ bản theo hai đạo: Phật giáo và Thiên Chúa giáo (cùng những biến tướng của nó). Đó là hai tôn giáo lớn trên thế giới.
Nhưng ngay từ trước khi tiếp nhận Phật giáo, người Việt cổ đã có những tín ngưỡng riêng của mình. Trải qua những hoàn cảnh lịch sử khắc nghiệt, tín ngưỡng ấy không phát triển thành tôn giáo được, song có một sức sống dai dẳng trong tâm linh mọi người. Có mảng nay còn rất được tôn trọng và dễ dàng nhận ra như đạo thờ Tổ tiên trong gia đình, sau mở ra với thờ Thành hoàng ở đình làng, thờ anh hùng dân tộc hay Tổ chung của cả nước ở đền. Cũng có mảng nhận ra không khó lắm, như đạo thờ Mẫu ở một số phủ và ghép vào trong hầu hết các chùa. Lại có những mảng tín ngưỡng bị tàng ẩn dưới những trò chơi trong các lễ hội mà dân làng tuân theo nghiêm ngặt, nhưng đã quên mất ý nghĩa, các nhà nghiên cứu phải dày công tìm hiểu mới "đọc" được phần nào. Người Việt cổ từ thời đại đồ đá mới đã có những cộng đồng chiếm lĩnh miền núi thuộc văn hóa Bắc Sơn và cộng đồng chiếm lĩnh miền biển thuộc văn hóa Hạ Long. Sang giai đoạn muộn hơn, các cộng đồng thuộc văn hóa Quỳnh Văn và văn hóa Bàu Trò bên cạnh việc săn thú rừng, nông nghiệp trồng lúa nước đã phát triển, nghề đàn cá ven biển cũng tương đối phát triển. Khoảng 4000 năm trước, người nguyên thủy phát hiện ra đồng trong lúc đã đẩy mỹ thuật chế tác đá lên đỉnh cao, thì họ đã tiến vào lưu vực sông Hồng chinh phục đồng bằng, đưa kinh tế trồng trọt và chăn nuôi lên vị trí hàng đầu. Các giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Mun phát triển liên tục và trực tiếp đã chuẩn bị tại chỗ cho văn hóa Đông Sơn đạt tới đỉnh cao thành văn minh Đông Sơn mà các sử gia xưa gọi là nhà nước Văn Lang của các vua Hùng, rồi nối tiếp là nhà nước Âu Lạc của An Dương Vương. Chính trong quá trình phát triển trên đây, các tín ngưỡng bản địa của người Việt cổ được hình thành, lưu lại dấu vết trên một số hiện vật mà tiêu biểu là trống đồng. Sau đó trong cuộc chinh phục và mưu đồ đồng hóa văn hóa của phương Bắc, văn hóa Đông Sơn bị đập nát chỉ lưu lại được ít hiện vật và những "mảnh vụn văn hóa" thông qua hội làng và một số đền thờ nhỏ. Tiếp theo, trong cuộc tiếp xúc hòa bình với văn hóa Ấn Độ, một số vị thần bản địa được Phật hóa.
Rồi khi bước vào kỷ nguyên độc lập, với tinh thần tự hào và tự tôn dân tộc, nhiều vị thần cũ được nâng cấp, thêm nhiều vị thần mới nữa được lịch sử hóa, hội làng được định hình thành lệ. Cứ thế, những lớp phù sa văn hóa mới phủ lên lớp cũ. Lắng tâm phân tích sinh hoạt ở chùa, đền, đình và lễ hội, chúng ta có thể nhận ra những tín ngưỡng bản địa của người Việt Nam

Bàn Thờ Mẫu tại đền Tiên Thiên Thánh Mẫu (Vĩnh Phúc)
Chùa là của làng, của vùng, nên ở chùa ngoài một số lễ hội Phật giáo thống nhất trong các chùa, còn có lễ hội theo tín ngưỡng địa phương. Lễ trọng của Phật giáo có lễ Phật đản rằm tháng Tư (ngày tháng ở đây đều theo âm lịch), lễ Phật thành Đạo rằm tháng Chạp, lễ Vu lan rằm tháng Bảy. Ở chùa còn có lễ "Tam nguyên" gồm lễ Thiên quan tích phúc vào rằm tháng Giêng, lễ Địa quan xá tội trùng với lễ Vu lan, và lễ Thủy quan giải ách vào rằm tháng Mười. Như vậy tất cả các lễ hội Phật giáo đều tiến hành vào ngày rằm âm lịch, tức là Ngày trăng tròn. Trăng tròn là "mãn nguyệt" đầy đặn, tròn trịa, trong sáng, chứa đựng một cái gì thiêng liêng, màu nhiệm, huyền bí.
Các lễ hội khác ở từng chùa thường được xem là gắn với ngày kỵ của vị sư tổ tiếng tăm, nhưng thực ra đó chỉ là một cách giới thiệu thuộc lớp văn hóa muộn, lật tìm về nguồn nó chính là hội xuân cổ truyền trai gái giao duyên của dân gian. Chẳng hạn hội chùa Thầy (Hà Tây) vào mồng 7 tháng Ba, ngoa truyền là ngày kỵ nhà sư Từ Đạo Hạnh, nhưng sử cũ ghi rõ Từ Đạo Hạnh hóa thân trút xác vào mùa hạ, tháng Sáu năm Bính Thân ( 1116 ). Và ở đây, đáng ra phải trang trọng thì lại là cảnh trai gái chơi núi, chơi hang:
Gái chưa chồng nhớ hang Cắc Cớ
Trai chưa vợ nhớ hội chùa Thầy
Chùa Hương (Hà Tây) là cả một quần thể kiến trúc và hang động, hội kéo dài cả mùa xuân, trai gái trẩy hội chính là để thỏa mãn khát vọng tuổi trẻ giữa thiên nhiên đang bừng thức sức xuân.
Hội đền cũng thế, từ đền thờ anh hùng huyền thoại đến đền thờ anh hùng lịch sử đều có dáng dấp hội tín ngưỡng xa xưa. Hội đền Hùng thờ Đức Quốc Tổ, nhưng sử gia xưa đã xếp giai đoạn lịch sử Hùng Vương vào "ngoại kỷ", sự tích các vua Hùng đầy huyền tích, thì ngày hội mồng 10 tháng Ba xem là ngày hóa của Đức Quốc Tổ chỉ là ngoa truyền. Đền Hùng ở trên núi, truy về nguồn cũng chỉ là một đền thần núi. Và như thế hội ở đền Hùng cũng chỉ là một thử hội xuân của địa phương được lịch sử hóa để cố kết cả dân tộc được nâng lên từ tín ngưỡng thờ tổ tiên. Rồi hội đền Gióng (Hà Nội) mồng 9 tháng Tư kỷ niệm Đức Thánh Gióng đại thắng giặc Ân. Các diễn xướng anh hùng ca bồi dưỡng cho mọi người lòng tự hào về quá khứ với một "kỳ tích Việt Nam", nhưng lễ hội cho phép hôm đó trai gái được vào nương dâu tình tự. Đây là lúc thời tiết thất thường chuyển từ khô hạn sang mùa mưa dông, phải chăng là dịp kết thúc hội xuân, trai gái vui chơi thỏa tình, để rồi sau đấy chuyển sang nhịp lao động khẩn trương. Đến đền thờ anh hùng lịch sử như các đền thờ Hai Bà Trưng ở Đồng Nhân (Hà Nội) vào ngày mồng 6 tháng Hai, ở Hát Môn (Hà Tây) vào mồng 8 tháng Ba và ở Hạ Lôi (Vĩnh Phúc) rằm tháng Giêng coi như ngày "Thánh hóa". Còn sử cũ cho biết Hai Bà Trưng mất vào tháng Năm, mùa hè năm 43. Rõ ràng các đền thờ Hai Bà Trưng đã đưa văn hóa thờ Hai Bà vào trong nội dung và trùm lên lớp văn hóa hội chơi xuân xa xưa của địa phương. Hội đền vua Đinh và đền vua Lê (Ninh Bình) cũng mở vào ngày mồng 10 tháng Ba, và một hội ở vùng Trương Yên có nhiều núi đá với những hang động, thung lan, và sông Hoàng tạo một địa bàn cho hội chơi xuân của trai gái. Về sau phủ lên việc tưởng niệm vua Đinh và vua Lê, có các sinh hoạt hội theo sự tích lịch sử nhưng cũng ở đó đã bộc lộ sự thức tỉnh thiên nhiên để cho mưa thuận gió hòa, và rộn ràng vẫn là những cảnh trèo núi chơi hang.

Mùa xuân, trẩy hội chùa Hương
Trở lại lớp văn hóa Việt cổ, đi từ nguồn, nhất là khi các dân tộc Việt từ vùng núi và từ vùng biển tiến vào chinh phục đồng bằng sông Hồng, tạo nên cuộc hôn phối Âu Cơ - Lạc Long Quân tượng trưng cho hai yếu tố cơ bản là vùng cao/ vùng trũng hay Rừng/ Nước để sinh ra trăm giống người Việt (Bách Việt) mà Lạc Việt và Âu Việt lại hòa đồng thành Âu Lạc là tổ tiên trực tiếp của ngừời Việt Nam ngày nay. Người Việt chiếm lĩnh đồng bằng là những cư dân trồng cấy lúa nước, trong tư duy của họ ở vùng thềm cao đồng bằng (tập trung là Sơn Tây) tôn thờ thần Núi thành Thánh Tản Viên và vùng thềm trũng (tập trung là Bắc Ninh) tôn thờ thần Sông thành Thánh Tam Giang. Rất nhiều làng quê có đình thờ các vị thần trên làm Thành Hoàng. Làm nông nghiệp lúa nước (có kết hợp chăn nuôi gia đình), họ nhận ra Mặt Trời trong sự chuyển xoay (ảo) đã tạo ra một quyền năng vô lượng, cần được tôn thờ ở vị trí hàng đầu, mà bằng chứng là được khắc nổi ở trung tâm các mặt trống đồng, là những trò chơi với quả cầu (và những biến tướng) được tuân thủ nghiêm ngặt trong nhiều lễ hội. Họ cũng nhận ra mối quan hệ Âm - Dương tương sinh tương khắc mà cụ thể là giữa Giống Cái và Giống Đực, rồi khái quát lên là các hiện tượng thiên nhiên như Nước/Lửa/Ngày/ Đêm... đối đãi nhau hòa hợp tạo sự phát triển, xung khắc gây tai biến, do đó con người phải tranh thủ bằng nhiều hình thức mà tàn dư còn thấy ở nhiều lễ hội với các trò múa nõ nường chen, tắt đèn. Trong tiềm thức của người làm ruộng nước, người Việt cổ nghĩ về các thần Rừng, thần Nước, thần Đất, thần Lửa cũng như nhiều thần khác đều thuộc yếu tố Âm, nhân hóa thành mẹ, đồng nhất với vũ trụ, khái quát thành Đạo Mẫu với Tam Toà và Tứ Phủ mà cho đến nay còn được rất coi trọng trong các phủ và chùa.
Tín ngưỡng thờ Mặt Trời được phản ánh rõ ở các trò chơi với quả cầu mà âm cổ là cù. Đánh phết, cướp cầu, vật cù, ném giỏ phổ biến ở vùng đất thuộc các tỉnh Phú Thọ, Bắc Ninh, Thanh Hóa... Quả cầu vốn là một khối tròn, to như quả bưởi, sơn son, vốn được thờ ở trong cung đình, đến ngày hội sau khi làm lễ được rước ra chơi ở sân bãi. Đánh phết tiêu biểu ở Phú Thọ với các hội Sơn Vi (l-3 tháng Giêng) hội Hiền Quang (13 tháng Giêng)... Các người chơi thuộc hai phe tranh nhau dùng gậy tre có nghéo đầu dưới để gạt và đẩy quả phết xuống lỗ ở giữa sân bãi hoặc ở hai đầu đông và tây của sân bãi. Cướp cầu phổ biến ở Phú Thọ với các hội Điêu Lương (mồng 4 tháng Giêng), hội Đông Viên (mồng 4 tháng Giêng), hội cầu đảo Thạch Trúc (khi đại hạn); ở Bắc Ninh vận hội làng Yên (14 tháng Hai), hội cầu đảo làng Diềm (khi đại hạn) và ở Thanh Hoá với hội làng Vạc (mồng 8 tháng Giêng).. mà người chơi thuộc hai phe đều dùng tay tranh cướp quả cầu đem bỏ vào lỗ cầu bên mình ở hai đầu đông hoặc tây của sân bãi. Trò ném giỏ, tung cầu ở Phú Thọ với hội Lương Lỗ (mồng 10 tháng Ba), hội Gia Dụ (12 tháng Giêng), ở Bắc Ninh với hội Đào Xá (khi đại hạn), ở Thanh Hóa với Vệ Yên (mồng 5 tháng Giêng) ở Hà Nam với hội làng Chẩy (mồng 2 tháng Giêng)… chỉ khác trò cướp cầu là lỗ cầu thay bằng giỏ treo trên cao. Các trò chơi với quả cầu đỏ được chuyển động cơ bản theo hướng đông - tây, tổ chức trên sân bãi là khu đất thường khi đưa được vào lỗ (hoặc giỏ) thì kết thúc đã gợi lại tín ngưỡng thờ. Mặt Trời cho tới khi đạt được sự hòa hợp âm - dương thì tạo sự phát triển cho muôn loài. Cũng tương tự các trò kéo co, đánh đu là sự chuyển động luân chuyển của thời gian. Trò chọi trâu gợi lại tín ngưỡng thờ Mặt Trăng, cặp sừng trâu là hình trăng khuyết. Thờ Mặt Trời, Mặt Trăng cũng như thơi gian chu chuyển là tín Ngưỡng về thiên nhiên, vũ trụ có ảnh hưởng đến nông nghiệp mà cả ngư nghiệp.
Các hội đua thuyền, bơi chải phổ biến trong cả nước, tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ vào các tháng 3-4-5 và 8-9, có nơi kéo dài gần một tháng như hội Đại Than (Bắc Ninh) từ mồng mười tháng Ba đến mồng năm tháng Tư. Nhiều cư dân trồng lúa và đánh cá ở Đông Nam Á cũng phổ biến lễ hội này. Ta thấy ở đây tín ngưỡng thờ thần Nước với sự đánh thức thủy thần và cầu những cơn dông đầu mùa cho mưa đúng lúc.
Hội pháo ở Đồng Kỵ (Bắc Ninh), Bình Đà (Hà Tây) với nhiều kiểu pháo đặc sắc, nhất là pháo màn than cả dàn treo cao, đã tạo tiếng nổ vang và ánh sáng như sấm rền chớp giật, tạo cả bầu trời khói vần vũ, như mong cho mưa thuận gió hòa, là tín ngưỡng thành
phong tục xuân của cư dân lúa nước.
Và nổi lên là các lễ hội biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực, như hội chen làng Nga Hoàng (Bắc Ninh) trong dịp từ mồng 6 đến rằm tháng Giêng là dịp để nam nữ giao hòa. Nhiều hội trong đêm rã hội, như hội Nga Hoàng và nhất là La Khê (Hà Tây) mồng 7 tháng Giêng có tục tắt đèn để trai gái tự do đùa nghịch. Được lễ nghi hóa và đáy thành trò múa mo như ở hội Đồng Kỵ (Bắc Ninh), Sơn Đồng (Hà Tây), Nam Cường và Lương Đài (Phú Thọ) hoặc trò cướp nõ nường ở các hội Dị Nậu, Khúc Lạc, Gia Thanh, Hà Thanh, Thanh Uyên (đều ở Phú Thọ) múa hát với bộ nõ và nường gợi hành động ân ái rồi tung cho mọi người cướp. Như vậy, chùa, đền, đình, với những sinh hoạt lễ hội trang nghiêm, chúng ta có thể bóc tách ra nhiều tầng văn hóa, để từ đấy tìm ra những tín ngưỡng của người Việt cổ còn lưu lại, cần thiết cho cư dân lúa nước như sùng bái giới tự nhiên và phồn thực.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét