Chuyển đến nội dung chính

Văn Miếu - Quốc Tử Giám

Việc vua Lý Công Uẩn chọn Đại La làm nơi đóng đô vào năm 1010, đổi tên thành Thăng Long (Hà Nội ngày nay, tên gọi buổi đầu là Rồng lên) thể hiện tầm nhìn xa trông rộng và hoài bão lớn lao của một vương triều thịnh trị. Một quốc gia độc lập tự chủ đã ra đời sau hơn 1000 năm Bắc thuộc, quật cường đánh bại mọi âm mưu thôn tính đồng hoá và giành được thắng lợi vẻ vang. Vào năm 1070, vua Lý Nhân Tông đã cho dựng Văn Miếu, và sau đó mở tiếp Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên của quốc gia 6 năm sau đó, đặt nền tảng vững chắc cho nền văn hoá Đại Việt đang trên đà phát triển rực rỡ.

Nét nổi bật của Văn Miếu Hà Nội là sự gắn kết Văn Miếu nơi thờ phụng danh nhân văn hoá với Quốc Tử Giám, nơi đào tạo nhân tài của quốc gia. Qua nhiều thăng trầm trong lịch sử, Văn Miếu - Quốc Tử Giám vẫn luôn tồn tại. Sau mỗi cuộc xâm lăng, khu di tích bị tàn phá nặng nề, các triều đại vua Đại Việt vẫn chủ trương tu bổ và xây dựng Văn Miếu - Quốc Tử Giám ngày một rộng lớn hơn.



Quốc Tử Giám được vua Lý Nhân Tông thành lập năm 1076. Vào năm 1253, đời Trần Thái Tông, Quốc Tử Giám được trùng tu dưới tên Quốc học viện. Dưới đời Lê chính thức đặt làm Thái học viện. Đứng đầu Quốc Tử Giám là quan Tế tửu, tương đương với Hiệu trưởng Đại học, kiêm chủ lễ tế ở Văn Miếu và quan Tư nghiệp, Hiệu phó. Đảm nhận việc giảng dạy ở Quốc Tử Giám có các Giáo thụ, Trực giảng và Trợ giáo. Học trò, được gọi là Giám sinh, được chia làm ba hạng: thượng xá sinh, trung xá sinh và hạ xá sinh hưởng mức học bổng khác nhau. Tại trường Giám thường có những buổi giảng văn, bình văn rất sôi nổi và lý thú.

Năm 1483, vua Lê Thánh Tông đã cho sửa chữa, tu tạo lại khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Theo ghi chép trong cuốn Việt sử thông giám cương mục thì: "Hồi đầu triều Lê, nhà Thái học vẫn theo nếp cũ triều Trần, quy chế phần nhiều còn thiếu thốn, đến nay nhà vua cho sửa sang rộng thêm... Đằng sau nhà Thái học dựng cửa Thái học, nhà Minh luân. Giảng đường phía Đông và giảng đường phía Tây là nơi dạy học; lại đặt thêm kho bí thư để chứa ván gỗ đã khắc in sách, bên đông bên tây nhà Thái học, làm nhà cho giám sinh ba xá, mỗi bên ba dãy, mỗi dãy hai mươi lăm gian làm chỗ ăn nghỉ cho giám sinh, bên đông bên tây mỗi bên đều có một nhà bia quy mô có phần rộng lớn khang trang".

Vào năm 1484, tức là một năm sau, vua Lê Thánh Tông chủ trương dựng bia tiến sĩ, đặc biệt tôn vinh các vị đại khoa. "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia... Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nên quý trọng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng. Đã yêu mến cho khoa danh, lại đề cao bằng tước trật... Việc dựng tấm bia đá này ích lợi rất nhiều: kẻ ác lấy đó làm điều răn, người thiện theo đó mà gắng, dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai, vừa để rèn giũa danh tiếng cho sĩ phu, vừa để củng cố mệnh mạch cho Nhà nước", lời bất hủ ấy đã được ghi trong bài ký đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo năm thứ 3 (1442) ở tấm bia sớm nhất dựng trong Văn Miếu theo chủ trương của vị minh quân - nhà văn hoá Lê Thánh Tông.

Thời Mạc, các khoa thi vẫn được tổ chức đều đặn. Việc tu bổ Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã được tiến hành từ năm 1536 đến mùa xuân năm 1537 thì hoàn tất.

Năm 1662, dưới thời vua Lê Trung Hưng, khu di tích được tu tạo với quy mô đáng kể dưới sự trông nom của Tham tụng Lễ bộ Thượng thư kiêm Đông các Đại học sĩ Yên quận công Phạm Công Trứ. Trong cuốn Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn từng mô tả: "Cửa Thái học ba gian có tường ngăn lợp ngói đồng. Nhà bia phía đông và phía tây mỗi dãy đều mười hai gian. Khu để ván khắc sách in bốn gian... Nhà Minh luân ba gian hai chái. Cửa nhỏ bên tả và bên hữu đều một gian có tường ngang. Nhà giảng ở phía Đông và phía Tây hai dãy, mỗi dãy mười bốn. Phòng học của học sinh tam xá ở phía Đông và phía Tây đều ba dãy, mỗi dãy hai mươi lăm gian, mỗi gian cho hai người ở". Như vậy, vào thời điểm trùng tu xong, Quốc Tử Giám có thể đón được 300 giám sinh.

Vào mùa hạ năm 1785 dưới triều vua Cảnh Hưng đã diễn ra đợt trùng tu cuối cùng dưới triều Lê, do Hành tham tụng Bùi Huy Bích trông coi.

Thời Sơn Tây, tương truyền vua Quang Trung đã phê vào tờ tấu xin sửa sang Văn Miếu - Quốc Tử Giá hai câu thơ nôm lục bát như sau:

Nay mai xây dựng lại nước nhà
Bia nghè lại dựng trên toà muôn gian

Nhưng tiếc thay triều đại ngắn ngủi ấy lại chưa kịp thực hiện điều mong ước này. Khi Gia Long lên ngôi đóng đô ở Phú Xuân - Huế, Thăng Long chỉ còn là một trấn của Bắc Hà. Văn Miếu dưới triều Nguyễn được xây dựng ở Huế. Từ đó Văn Miếu Thăng Long chỉ còn là Văn Miếu của trấn Bắc Thành, Quốc Tử Giám thành nhà học của phủ Hoài Đức. Tuy vậy, tới năm Gia Long thứ 4 (1805), Văn Miếu - Quốc Tử Giám lâm vào cảnh "khói lạnh, hương tàn" do cuộc xâm lược của Pháp và tiếp đó là việc bãi bỏ khoa cử sau khoa thi cuối cùng năm 1919, rồi trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1946-1954) cũng chịu thêm nhiều tổn thất, tuy có dựng lại được hai dãy Tả vu và Hữu vu nhờ hảo tâm của một số nhân sĩ.

Chỉ sau ngày kháng chiến thắng lợi, Nhà nước Việt Nam mới có điều kiện để bảo vệ và tôn tạo Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Khu này được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp Nhà nước theo quyết định ngày 28/4/1962. Thành phố Hà Nội ngày 25/4/1988 đã quyết định lập Trung tâm hoạt động văn hoá, khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám.

[nguồn: http://www.kts.org.vn/]

Nhận xét