Vũ điệu cung đình Chămpa trên tác phẩm điêu khắc

Ngày nay, khi các tư liệu thành văn về lĩnh vực múa của người Chămpa cổ rất hạn chế, thì việc nghiên cứu những di vật cổ chạm khắc người múa sẽ góp thêm những tri thức về vũ đạo truyền thống Chămpa cũng như vai trò của nó trong đời sống văn hóa của cộng đồng cư dân Chăm trong quá khứ. Ngôn ngữ điêu khắc là nguồn tư liệu đáng tin cậy, từ nguồn tư liệu câm lặng này có thể cho ta biết chắc chắn được rằng, người Chămpa cổ từ trong lịch sử họ đã có một nền nghệ thuật múa phát triển đa dạng.




Tượng thần Mahisamandhi có niên đại TK XII (Bình Nghi - Tây Sơn)
hiện đang trưng bày trong Bảo tàng Bình Định.


Trong nghệ thuật điêu khắc đá Chămpa, hình tượng người múa được khắc tạc nhiều. Loại hình này thường được gắn ở trán cửa hay trên các dải băng trang trí của những ngôi tháp Chàm… Bình Định từng là một trong những trung tâm lớn của vương quốc Chămpa cổ (trung tâm Vijaya). Nằm chung trong truyền thống của nền văn hóa này, giống như những nơi khác, hầu hết các tượng đều thể hiện những điệu múa mang hình thái tôn giáo, tín ngưỡng (các thần) và múa cung đình (lễ nghi, chúc tụng, đón khách). Bên cạnh các điệu vũ của thần Siva, nữ thần Uma, nữ thần Sarasvati… thì vũ điệu tiên nữ Apsara cũng là một hình tượng quen thuộc mà chúng ta thường bắt gặp. Theo truyền thuyết Chămpa, tiên nữ Apsara là vũ nữ chuyên múa hát trên cõi trời do thần Indra (thần sấm sét) cai quản. Hình tượng tiên nữ Apsara được thể hiện theo nhiều bố cục khác nhau: tiên nữ múa tập thể, tiên nữ độc diễn… Và ở mỗi phong cách tạo hình, vũ điệu của các tiên nữ Apsara mang những nét sinh động, linh hoạt khác nhau.

Bức phù điêu bằng đá sa thạch, khắc tạc hình vũ nữ Apsara trong "điệu múa thần thánh" hiện đang trưng bày trong Bảo tàng Bình Định, thể hiện vũ nữ trong tư thế đang nhảy múa bay lượn trên không trung. Xung quanh là những đám mây. Đầu vũ nữ đội mũ chóp nhọn nhiều tầng, mặt nhìn nghiêng. Thân hình uốn uyển chuyển, bộ ngực nở căng đầy sức sống. Hai tay tiên nữ vươn lên; quanh bụng quấn sampót nhiều lớp, tà bay uốn lượn mềm mại. Hai chân nhún nhảy, chân phải hơi co lên, chân trái nhún hất về phía sau trong tư thế động. Hình ảnh tiên nữ được diễn tả sinh động, đầy sức sống. Phía bên trên cũng có một hình vũ nữ nữa được khắc tạc tương tự nhưng đã bị sứt mẻ. Chỉ còn lại một cái chân.

Hình ảnh vũ nữ múa tập thể ta còn thấy trên mặt đứng phiến đá áp trang trí chân tháp Bánh Ít (Tuy Phước), thể hiện 4 vũ nữ trong tư thế nhảy múa, bộ ngực to nở căng sức sống, mỗi cánh tay thể hiện một phong cách khác nhau: tay phải chống nhẹ vào hông, tay trái giơ cao. Thân hình tròn gọn để trần, quanh bụng quấn sampót với nhiều vòng, tà sampót bay ra phía sau. Mỗi vũ nữ thể hiện một tư thế, kết lại thành một băng trang trí hoàn chỉnh, được thể hiện đẹp và đầy sức sống.

Cũng với động tác múa, nhưng phù điêu vũ nữ ở Hải Minh (Quy Nhơn) lại diễn tả độc diễn, có choàng khăn mỏng, hai tay giơ vòng lên đỉnh đầu kéo theo dải voan phía sau trông như cánh bướm, hai chân chùng xuống rất đều.

Trong nghệ thuật múa Chămpa cổ, động tác múa xoãi chân ra hai bên và chùng xuống đổ dồn trọng lượng cơ thể trên đầu mũi chân là rất phổ biến. Có lẽ tác phẩm điêu khắc vào loại đẹp nhất của nền điêu khắc cổ Chămpa là bức phù điêu phát hiện ở núi Cấm (Bình Nghi - Tây Sơn). Hình tượng được thể hiện là nữ thần Mahisamandhi có niên đại thế kỷ XII (một trong những tính nữ của thần Siva). Nữ thần đang múa trong tư thế hai chân chùng xuống, hơi đưa mông về bên trái, tay trái chống hông, tay phải cầm mũi tên. Tám tay phụ như mọc ra từ phía sau lưng vũ nữ, uyển chuyển nhịp nhàng trong những động tác múa khác nhau và làm động tác như đang dâng vật gì đó ngay phía trên đầu; sáu tay phụ kia, mỗi tay cầm một vật : tù và, cánh cung và cakra (cây trượng) ở bên trái, chuông nhỏ, đoản kiếm và chiếc giáo ở bên phải. Người phụ nữ đang múa trên mình hai con thủy quái makara (xem ảnh).

Bức phù điêu phát hiện ở tháp Dương Long là hình ảnh tương tự. Phù điêu thể hiện thần Brahma (thần Sáng tạo) có niên đại thế kỷ XII. Vị thần đứng trong tư thế hai chân chùng xuống, bành hai đầu gối khá mạnh ra hai bên, hai tay chính đang bắt quyết trước ngực. Từ phía hai bắp tay, mỗi bên còn mọc ra thêm ba tay phụ cầm những vật khác nhau: tay dưới cầm một con dao găm, tay trên cầm đóa hoa sen, tay giữa cầm một vật gì đó đã bị vỡ nên không nhận ra được. Thần có ba đầu : một đầu chính giữa nhìn thẳng, hai đầu kia như cố nhô ra để nhìn về phía trước. Cả ba đầu đều có khuôn mặt vuông vức, nghiêm nghị và đầu đội chiếc mũ hình chóp nón trơn. Thần không mặc áo, nên cả phần thân trên hiện ra lực lưỡng, cường tráng. Y phục duy nhất của thần là chiếc quần cộc được giữ lại ở bụng bằng một dây thắt rộng bản trang trí các hình cánh sen. Chiếc dây thắt có một vạt dài rủ từ phía trước bụng xuống. Quanh vị thần là những tia hào quang hình cánh sen (xem ảnh).

Như vậy động tác choãi chân hai bên được thể hiện lặp đi lặp lại nhiều trong điêu khắc Chămpa, điều đó chứng tỏ trong vũ điệu cổ Chămpa, động tác đôi chân dường như không có sự thay đổi đáng kể. Tuy nhiên không vì thế mà nó mất đi tính biểu đạt cũng như vẻ linh hoạt trong sự phối hợp với đôi tay và toàn bộ cơ thể trong các vũ điệu. Để có thể định hình cho từng động tác tay mang ý nghĩa gì là một điều rất khó, bởi các văn bản nói về ý nghĩa của các động tác tay trong vũ đạo Chămpa hầu như không còn. Tuy nhiên, để tìm hiểu, khai thác những gì liên quan đến vũ đạo Chămpa truyền thống, không thể không tìm về cội nguồn xuất phát điểm của nó, đó là văn hóa Ấn Độ nói chung và vũ đạo Ấn Độ nói riêng.


Tượng thần Brahma có niên đại cuối TK XII (Dương Long - Tây Sơn)
hiện đang trưng bày trong Bảo tàng Bình Định.

Từ rất sớm trong lịch sử, vương quốc Chămpa đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn minh Ấn Độ, những di vật tìm thấy được trên vùng đất Chămpa cũ đã phần nào nói lên điều này. Theo đó, nghệ thuật múa Ấn Độ cũng được du nhập vào Chămpa, nhưng cụ thể vào thời điểm nào thì không có tư liệu nào nhắc đến. Tuy nhiên, hình tượng các vũ nữ trên bệ thờ ở Trà Kiệu được trưng bày ở Bảo tàng điêu khắc Chăm Đà Nẵng (thế kỷ VII - VIII) đã chứng minh cho sự xuất hiện một lĩnh vực nghệ thuật của văn hóa Ấn Độ ở Chămpa lúc bấy giờ. Chủ đề tác phẩm là minh họa tác phẩm Bhayavatapurana của Ấn Độ. Lĩnh vực ca múa và những người tiếp thu nền vũ đạo Ấn Độ trước hết chính là tầng lớp quí tộc bên trên. Như vậy, từ chỗ đóng vai trò nghệ thuật phục vụ tôn giáo trong văn hóa Ấn Độ, vũ đạo đã trở thành loại hình nghệ thuật được coi trọng trong cung đình Chămpa cổ. Điều này hoàn toàn trái với quan niệm của các triều đại phong kiến Đại Việt ở phương Bắc, đặc biệt là từ triều hậu Lê trở về trước, vốn rất coi khinh những người hành nghề ca múa, như trường hợp Đào Duy Từ chẳng hạn. Việc nghệ thuật múa được coi trọng trong cung đình Chămpa cổ cũng phần nào lý giải vì sao phần lớn các tác phẩm người múa đều được trang trí ở phần thượng tầng các kiến trúc của tháp Chămpa.

Vào đầu Công nguyên, trong cuốn Lý thuyết về múa hát Natyashatra của Bharata đã liệt kê có đến 24 động tác một tay, 13 động tác hai tay; còn cuốn Abhinaya Darapanam của Nadikesvars thì cho biết có đến 28 động tác một tay và 23 động tác hai tay. Điều đó chứng tỏ, trong vũ đạo Ấn Độ, đôi tay thể hiện tất cả sắc độ tinh tế của tư duy, tình cảm; mỗi vũ điệu có những cách biểu đạt khác nhau. Tuy vậy, có thể suy đoán rằng, trong buổi đầu tiếp nhận nghệ thuật múa Ấn Độ, nghệ thuật múa Chămpa cũng không ngoài mục đích thể hiện tôn giáo và vương quyền. Đối với các vị thần linh, ý nghĩa của từng động tác tay và những binh khí, mang biểu trưng quyền lực; còn đối với những tiên nữ Apsara là sự dâng lễ, kính chào thần hoặc chúc mừng. Có thể nói, trong các phù điêu Chămpa, đôi tay là sự biểu đạt cao nhất trong việc thể hiện nội dung và phong cách của một vũ điệu. Nhận xét về động tác đôi tay trong vũ đạo phương Đông, một nhà nghiên cứu phương Tây cho rằng " đó là một khoa học để phục vụ sân khấu". Theo nghĩa đó, từng động tác tay trong vũ điệu mang một ý nghĩa tượng trưng và biểu đạt vô cùng to lớn mà để hiểu được nó một cách cụ thể và sâu sắc, cần phải có sự tìm hiểu và đối chiếu từ nhiều nguồn tư liệu.

Về quan điểm thẩm mỹ, cũng như các vũ nữ Ấn Độ, vũ nữ Chămpa được diễn tả bao giờ cũng phô diễn cái đẹp kiều diễm của cơ thể, dù chỉ là những tác phẩm bằng đá thôi, nhưng ta cũng cảm nhận được phần lớn các vũ nữ khi múa đều để mình trần, phô diễn cái đẹp nhất mà thượng đế ban phát cho họ, tất cả chỉ được che giấu dưới lớp vải mỏng.

Người Chăm hiện nay đã trở thành một thành viên trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Phần lớn người Chăm cư trú chủ yếu ở Ninh Thuận, Bình Thuận, một số ở thành phố Hồ Chí Minh, đồng bằng Nam Bộ. Ở Bình Định chỉ có khoảng trên 2.000 người cư trú ở Vân Canh (nhóm Chăm H’roi). Mặc dù hiện nay có thể những điệu múa cung đình Chămpa không còn tồn tại nhưng tinh thần vũ đạo vẫn là dấu ấn in đậm trong đời sống của người Chăm. Trong nghệ thuật múa Chăm phần lớn đã mang tính dân gian, song trong phong cách biểu diễn ta vẫn thấy yếu tố xưa còn được giữ lại : yếu tố Ấn Độ hóa vẫn còn, ví dụ như vai trò của phụ nữ trong các lễ hội tại đền tháp, tính độc diễn của từng vũ nữ, các động tác biểu diễn… Ngoài ra, một số điệu múa dân gian như múa đội nước… Tuy nhiên, khi so sánh qua các tác phẩm điêu khắc ta thấy , người Chăm hiện nay chưa thể đạt đến trình độ múa của các thần linh được diễn tả trong các tác phẩm điêu khắc. Nhưng một điều ghi nhận là nghệ thuật biểu diễn của người Chăm hôm nay có sự tiếp nhận, bảo lưu những nét văn hóa cổ xưa của người Chămpa cổ trong nghệ thuật biểu diễn của mình, nhưng không còn là nguyên bản mà đã bị hòa nhập, hòa tan sau cả ngàn năm tồn tại. Và, ảnh hưởng nghệ thuật múa Ấn Độ đối với người Chăm xưa thật sâu đậm như một số nhà nghiên cứu bấy lâu nay đã ghi nhận.


Hồ Thùy Trang 

Nét đẹp trong kiến trúc tháp Chăm





Việt Nam là một trong những quốc gia có nền văn hóa đa dạng bởi sự góp mặt của 54 dân tộc anh em sinh sống trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đặc biệt, trong kho tàng các di tích lịch sử và văn hóa của đất nước thì các tháp Chăm có một chỗ đứng nhất định. Qua hàng trăm, hàng ngàn năm, các ngôi tháp vẫn còn đó với một vẻ đẹp độc đáo.
Là những công trình tôn giáo tín ngưỡng dùng để thờ cúng các vị thần hoặc các vị vua được tôn lên làm thần, nên các tháp Chăm thường được đặt tại các vị trí cao như: gò, đồi, hoặc đặt trên núi, theo tín ngưỡng tâm linh của dân tộc Chăm, tạo cảm giác hoành tráng và tôn nghiêm. Cho đến nay, đã có nhiều nhà nghiên cứu say mê bởi vẻ đẹp và cả bí ẩn của tháp Chăm mà vẫn chưa được lý giải trọn vẹn. Tháp Chăm vẫn đứng đó với biết bao huyền thoại.

Về nghệ thuật cổ truyền, dân tộc Chăm đã góp vào kho báu nghệ thuật Việt Nam nhiều thành tựu lớn lao rất đặc sắc, nhất là kiến trúc và điêu khắc. Hệ thống tháp và tượng Chăm xứng đáng được xem là di sản văn hóa thế giới. Nếu xếp đặt nghệ thuật kiến trúc tháp Chăm theo lịch trình phát triển thì tháp Chăm có lịch sử phát triển liên tục khá dài từ đầu thế kỷ thứ IX với các tháp Phú Hài, Hoà Lai, đến thế kỷ XVI với tháp Pôrômê. Trong 8 thế kỷ đó, người Chăm đã xây dựng không biết bao nhiêu đền tháp. Tuy vậy, các tháp Chăm nằm rải rác suốt từ Quảng Nam - Đà Nẵng tới Ninh Thuận, Bình Thuận vẫn là những viên ngọc quý của nền kiến trúc cổ Việt Nam và Đông Nam Á.

Vào những năm 80 của thế kỷ 20, các nhà khoa học Việt Nam và Ba Lan đã cứu chữa cho những tháp Chăm ở Quảng Nam, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Định. Nhiều tháp đã kịp thời cứu chữa để chống sự xuống cấp nhanh chóng. Về kiến trúc và điêu khắc Chăm, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, bom đạn của giặc đã phá huỷ những công trình kiến trúc Chăm rất nặng nề. Cho đến hôm nay, chúng ta còn khoảng 19 địa điểm có di tích kiến trúc Chăm với khoảng chừng 40 cây tháp. Những tháp Chăm đều có bình đồ là hình vuông, có 4 cửa ở 4 phía nhưng chỉ có phía Đông mới là cửa chính có lối ra vào, có hành lang, tiền sảnh chạy dài phía trước, còn 3 phía bên là cửa giả. Những ngọn tháp vươn cao lên tựa như một linh ga để trên quả đồi là Yoni, tượng trưng cho sự đủ, đầy của tạo hóa.

Tháp Pôklongiarai được xây trên đỉnh Đồi Trầu, cách thị xã Phan Rang chừng 3 km về phía Tây Bắc. Tổng thể kiến trúc xưa gồm 5 tháp, nay còn 3 tháp là tháp Cổng, tháp Lửa và tháp Chính. Tháp Chính là tháp lớn nhất, cao hơn 21m, mỗi cạnh dài 10m, gồm 4 tầng lên cao thu nhỏ dần rồi tận cùng bằng một linh ga đá. Các mặt của 4 tầng đều có vòm cửa. Quanh thân tháp được trang trí rất khéo léo. Người xưa đục gọt gạch thành những băng hoa kỷ hà, những dải cánh sen, những đường uốn lượn vui mắt quanh các ô cửa, tạo thành những vòng hào quang toả sáng. Ngoài tượng các thần phương hướng, tháp còn có tượng bò, dê và đặc biệt có tượng thần Siva ở mí cửa ra vào. Khu tháp được xây dựng để tưởng nhớ vị vua Pôklongiarai, một vị vua đã có công trong việc dẫn thuỷ, hạ điền của địa phương.

Ở tháp Hòa Lai có mặt bằng hình chữ nhật. Các cạnh trước, cạnh sau dài khoảng 8m, cao 10m. Mặt chính của ngôi tháp được đặt ở phía Đông, nhưng 2 mặt bên cũng đều có trổ cửa ra vào để đón ánh sáng. Có thể nói, ngôi tháp Hoà Lai là những kiến trúc thành công nhất của phong cách với khối thân hình lập thể mạnh mẽ, bên trên là hệ thống cổ điển của các tầng nhỏ dần. Tuy nhiên, tháp trang trí giới hạn ở các chỗ khung cửa và các cột ốp, các đường diềm nhấn ở các tầng. Phong cách trang trí vừa nhấn mạnh, tô điểm cho các cấu trúc đỡ, vừa phô bày ra một thị hiếu hoàn hảo. Yếu tố tiêu biểu của tháp Chăm là các vòm cửa nhiều múi tròn trùm lên các cửa thật, cửa giả và các khám. Tuy có vai trò như trán nhà, vòm cửa của tháp Chăm uốn cong, các vành được trang trí bằng các hình cuốn. Các cột ở khung cửa hình bát giác bằng sa thạch được trang trí bằng một đường gờ nặng nề ở giữa. Các trụ ốp được tô điểm bằng các hình lá uốn cong, ở giữa là các hình thực vật. Trong đó, hình người đắp nổi, gợi đến chủ đề ở bệ đá Mỹ Sơn. Tất cả tạo cho tháp Hoà Lai một vẻ đẹp trang trọng và tươi mát.
Nếu tính hoành tráng và đường bệ được bộc lộ ra bằng sự nhịp nhàng của những cột vách, thì những băng trang trí với những hoạ tiết xum xuê, đôi khi rối rắm lại sản sinh ra một kiểu cửa vòm mạnh và sống động. Cả 2 xu thế đó ở tháp Chăm hoà vào nhau trong sự cân đối và tiết độ, tạo cho tháp Chăm vừa vững chắc, vừa cao quý và cổ kính.
Tháp Pôrômê là ngôi tháp được xây dựng khá muộn, tháp được xây dựng trên một quả đồi cao chừng 50m thuộc làng Hâu Sanh, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Khu tháp này có 3 ngọn tháp nhưng nay chỉ còn một cây tháp chính thờ Pôrômê, còn tháp phụ phía sau thờ Hoàng hậu và tháp bên phải thờ thần Hoả đã bị huỷ hoại hoàn toàn. Tháp chính Pôrômê về bố cục và hình dáng giống tháp Pôklongiarai nhưng nhỏ hơn một chút, cao chừng 18m, cạnh chân dưới 8m, các đường gờ ngang và cột ốp dọc ít hơn, các tượng gắn với tháp chỉ có ở hai tầng dưới. Theo các cụ già ở đây truyền lại rằng, tháp này vốn của Po Mun Taha là bố vợ của Pôrômê. Sau này Pôrômê được bố vợ truyền ngôi nhờ có nhiều công và được thờ trong tháp này.
Theo quá trình biến động của lịch sử, người Chăm không thường xuyên đến các tháp Chăm nữa nhưng trong tâm thức của họ ai nấy đều rất tự hào, nhất là khi có điều kiện vẫn tổ chức đi lễ các tháp (đặc biệt đi lễ tháp mẹ Po Nưga ở Nha Trang) như một cuộc hành hương về đất Mẹ, về cội nguồn.

Từ những thế kỷ trước công nguyên, đồng thời với văn hóa Đông Sơn của người Việt cổ ở Bắc Bộ và Bắc Trung bộ, thì trên dải ven biển miền Trung nổi lên văn hóa Sa huỳnh. Nền văn hóa này vừa có mối quan hệ với văn hóa Đông Sơn, vừa có mối quan hệ văn hóa kim khí ở vùng Đông Nam Á.

Từ toàn cảnh tháp Chăm và dừng lại ở một số khu tháp tiêu biểu, có thể thấy, tháp Chăm là một loại kiến trúc tôn giáo, được xây dựng thành từng cụm, thường hướng phía Đông, nơi mặt trời mọc để xua tan đêm tối, làm chỗ dựa tinh thần của người Chăm, đồng thời gợi về cộng đồng Mã Lai - Đa đảo, là tiền đề tạo nên sự hoành tráng cho kiến trúc của những cư dân vùng biển cả. Trong mỗi cụm kiến trúc có một tháp chính và một số tháp phụ bao quanh, bố cục theo nguyên tắc hướng tâm, cho thấy nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc của dân tộc Chăm đã góp phần không nhỏ vào kho báu nghệ thuật Việt Nam nhiều thành tựu lớn lao.

Nhận xét