Thứ Năm, 18 tháng 5, 2017

“giới tử thư” (thư dạy con)

Gia Cát Lượng đã viết trong “giới tử thư” (thư dạy con): “Làm theo đạo của người quân tử, tu thân thanh tịnh, cần kiệm để dưỡng đức, đạm bạc để nuôi dưỡng chí, tĩnh lặng để nghĩ xa.”

Thứ Hai, 15 tháng 5, 2017

Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc


Ngôi nhà 300 năm tuổi làm bằng gỗ lim ở vùng quê Kinh Bắc của dòng họ Nguyễn Thạc (làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh) dựng từ năm 1686, được UNESCO trao giải thưởng công trạng trong bảo tồn di tích.

Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc
Năm 1686, cụ Diệu Đình Hầu - Nguyễn Thạc Lượng và vợ là bà Nguyễn Thị Nguyện mang theo 8 bè gỗ lim từ Thanh Hóa về Đình Bảng (Bắc Ninh) để dựng nhà. Số gỗ này đủ dựng hai ngôi từ đường cho dòng họ Nguyễn Thạc, một khu nhà dành cho con trưởng của dòng họ và đình làng Đình Bảng. Cụ Lượng còn mang một cây gỗ nghiến cổ thụ để làm dùi, đục.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 1
Khu nhà của dòng họ Nguyễn Thạc xây dựng trong vòng 14 năm, từ năm 1686 đến năm 1700, gồm một khu thờ tự; một khu để ở, tiếp khách và bếp. Nhà trong ảnh vốn là nơi thờ tự của gia đình, còn nơi ở và tiếp khách là một nhà 7 gian khác phía sân trước mặt. Do hoàn cảnh khó khăn nên năm 1958, gia đình đã dỡ gian này để bán cho một đại gia ở Đồng Kỵ.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 2
Ông Nguyễn Thạc Sủng, đời thứ 10 sống ở đây, cho biết, thời Pháp thuộc, ngôi nhà bị chiếm đóng 6 năm. Sau năm 1954, bà con trở về quê cũ, làng mạc tan tác hết, chỉ còn ngôi nhà này vẫn chưa bị phá. Trải qua mấy trăm năm, căn nhà bị xuống cấp. Năm 1996, Đại học nữ Chiêu Hòa (Nhật Bản) đã đầu tư khoảng một tỷ đồng để trùng tu.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 3
Theo khảo sát của Nhật Bản, chỉ còn khoảng 10 ngôi nhà có niên đại 300 năm ở Việt Nam. Ngôi nhà của dòng họ Nguyễn Thạc tiêu biểu cho kiến trúc vùng Kinh Bắc, được làm hoàn toàn từ gỗ lim, có tới 60 cây cột, không có mối mọt và có thể chống được ẩm. Trước nhà có sân rộng, bể nước, vườn cây cảnh.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 4
Hiên nhà vừa là nơi hóng mát vào những ngày hè oi bức, vừa tránh mưa gió không hắt vào nơi ở. Mái nhà
dân gian thường lợp ngói vẩy cá, dốc 30 độ, giúp nước mưa dễ chảy xuống.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 5
Chi tiết hoa văn được chạm trổ với hình rồng, mây vờn, hoa lá. Các họa tiết có sự đồng điệu giữa cột cái,
cột quân và cột nghiêng trong một bộ vỉ kèo, từ đó dễ nhận biết được đặc trưng kiến trúc nhà ở dân gian
Bắc Ninh.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 6
Trải qua 314 năm, những chi tiết chạm trổ vẫn chắc chắn, không hề bị mối mọt.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 7
Nhà hiện có 7 gian, 3 gian chính giữa là nơi thờ tự, nơi quan trọng nhất trong nhà ở dân gian Bắc Bộ. Gian thờ chính nằm giữa với hoành phi, câu đối chạm khắc tỉ mỉ là nơi đặt bài vị của tổ tiên họ Nguyễn Thạc. Đây cũng là nơi trưng bày các sắc phong của triều Lê - Trịnh cho những người đỗ đạt trong dòng họ.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 8
Ngôi nhà của dòng họ Nguyễn Thạc có sử dụng hệ cột gỗ đỡ mái xây - một kỹ thuật xây dựng gây kinh ngạc với các kiến trúc sư Nhật Bản khi phục chế ngôi nhà. Hệ cột chịu lực đỡ mái làm từ một tấn vật liệu bao gồm gạch, ngói và chất kết dính.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 9
Các cây cột cái làm từ gỗ lim có đường kính 90 cm, cao 4,3 m. Trải qua 300 năm, một số cột bị hư hỏng.
Sau khi được Nhật hỗ trợ trùng tu, những cây cột này có thể trụ được vài trăm năm nữa.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 10
Nhà có 28 cánh cửa bức bàn. Thời Pháp chiếm đóng, 27 cánh cửa bị đốt. Về sau, cánh cửa duy nhất còn lại được
dùng làm nguyên mẫu để đóng những cửa khác.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 11
Tương truyền, tốp thợ Thanh Hóa được chọn để làm ngôi nhà và đình Đình Bảng. Năm đó, thợ cả mang theo
cậu con trai 5 tuổi, đến lúc xong ngôi nhà này và đình Đình Bảng, cậu bé đã sang tuổi 55.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 12
Dòng họ Nguyễn Thạc có 228 năm liên tiếp làm quan. Trải qua thời gian, dòng họ còn lưu giữ được nhiều tư liệu quý như 12 cuốn gia phả, 11 đạo sắc phong, 5 lệnh chỉ, hoành phi, câu đối... Ngôi nhà này cùng với đình làng Đình Bảng là những công trình kiến trúc tiêu biểu cho vùng Kinh Bắc.

4 chiếc ấn báu ‘ngọc tỷ truyền quốc’ độc nhất vô nhị của vua chúa Việt Nam


Xuyên suốt lịch sử các vương triều ở Việt Nam, có rất nhiều loại ấn tín khác nhau, trong đó không thể không nhắc đến những ấn tín có xuất xứ khá đặc biệt.
Trong 143 năm tồn tại của mình, nhà Nguyễn cũng như các vương triều trước đó đều coi ấn tín biểu thị cho quyền lực tối cao, là báu vật của quốc gia và tượng trưng cho đế quyền. Triều Nguyễn đã cho làm hơn 100 chiếc ấn báu, có rất nhiều loại ấn tín khác nhau từ hình dáng đến họa tiết, chất liệu… Rất nhiều trong số đó là những ấn tín độc đáo có một không hai. 
1. Vua Minh Mạng và những chiếc ấn ngọc “tình cờ có được”
Điển hình nhất, có giá trị cao nhất là loại ấn tín của hoàng đế được gọi chung là “Kim ngọc Bảo tỷ”. Kim Ngọc Bảo tỷ là những ấn của nhà vua dùng trong trường hợp danh nghĩa quốc gia trọng đại hay được đóng trên các văn bản quan trọng. Những loại ấn này nếu được làm bằng ngọc gọi là “Ngọc tỷ”, được đúc bằng vàng gọi là “Kim Bảo tỷ”.
Vua Minh Mạng trong thời gian ở ngôi đã cho làm nhiều loại ấn tín bằng các chất liệu khác nhau với mục đích sử dụng cụ thể. Ngoài ra trong số ấn tín của vua lại có những chiếc ấn có được một cách tình cờ. Sách Minh Mạng chính yếu cho biết vào năm Mậu Tý (1828) “có người ở Quảng Trị là Nguyễn Đăng Khoa, được viên ngọc tỷ đem vào dâng vua, trong có khắc bốn chữ: “Vạn thọ vô cương” bằng lối chữ triện.”
Ngọc tỷ khắc chữ “Vạn Thọ vô cương” của vua Minh Mạng. (Ảnh: Doanhdoanh)
Ngọc tỷ khắc chữ “Vạn Thọ vô cương” của vua Minh Mạng. (Ảnh: Doanhdoanh)
Các quan đều tâu mừng rằng: “Đây là điềm đức Hoàng thượng thọ khảo và phúc quốc gia vô cương vậy!”. Nhà vua đem việc ấy mà dụ các quan rằng: “Khi trẫm mới lên ngôi, người ở Long triều đã từng dâng ngọc tỷ khắc bốn chữ: “Trung hòa vị dục”, nay lại được ngọc tỷ này, xem nghĩa bốn chữ ấy thì có lẽ là bảo vật của triều trước di truyền, để lâu ngày mờ ám nên chưa biết rõ”.
Về sau người ở Đông Trì, tỉnh Thừa Thiên là Hoàng Nghĩa Thắng đào được một ngọc tỷ đem dâng, trong có khắc bốn chữ nổi là: “Phong cương vạn thổ”.
Ngọc tỷ khắc chữ “Vạn Thọ vô cương” của vua Minh Mạng. (Ảnh: Doanhdoanh)
Phong cương vạn cổ được làm bằng loại bích ngọc, quai núm vuông, 4 mặt vát hình thang chạm khắc 2 hàng hồi văn chữ S, 4 phía thành hình chữ nhật. (Ảnh: Internet)
Trên mặt núm vuông chạm hình rồng. Mặt ấn chạm 4 chữ Triện: Phong cương vạn cổ. Ấn này không thấy ghi chép trong sách vở nào nhưng rất cổ kính và độc đáo.
Sách Quốc sử di biên cũng cho biết như sau: “Lấy được ấn ngọc ở Quảng Bình. Tôn Thất Sưởng bắt được ở xã Nhan Biều, trấn Quảng Bình, ấn có bốn chữ “Vạn thọ vô cương”. Chiếu cho dùng ấn ngọc này đóng vào tờ ấn chiếu tiết Vạn Thọ. Trước có 6 ấn ngọc như “Quốc gia tín bảo”, “Trị lịch minh thời”.v.v…, đến đây, tăng thêm 6 ấn ngọc nữa là “Hoàng đế chi tỷ”, “Tôn nhân chi tỷ”, “Khâm văn”, “Duệ vũ”, “Sắc chánh vạn dân” và “Thảo tội an dân”, cộng với 6 ấn cũ thành 12 ấn ngọc, đều tùy việc mà dùng”.
2. Chiếc ấn báu của vua Thiệu Trị được làm từ một viên ngọc cực quý hiếmTheo sử sách ghi lại, vào năm Bính Ngọ niên hiệu Thiệu Trị thứ 6 (1846) có người dân trong khi tìm vàng và đá quý ở núi Ngọc, huyện Hòa Điền, vùng đất Quảng Nam đã đào được một viên ngọc cực lớn, ánh sắc rực rỡ vô cùng bèn dâng vua. Thấy đây là viên ngọc quý hiếm, vua Thiệu Trị rất mừng cho là điềm may mắn liền sai quan Hữu tư mang đi mài dũa, chế tác làm thành quả ấn.
(Ảnh: Internet)
Ấn ngọc “Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ”. (Ảnh: Internet)
Sau thời gian một năm trời bỏ công sức, trổ hết tài năng, thợ khắc đã chế tác xong chiếc ấn dâng lên, vua Thiệu Trị xem thấy ngọc tỉ cứng rắn, đẹp đẽ, ôn nhuận sáng sủa, trên núm ấn là hình rồng uốn khúc, cao hơn 4 tấc, mặt hình dấu khắc theo hình vuông, kích thước 3,1×3,1cm. Nhà vua cũng quyết định chọn thời điểm đẹp, ngày tốt là ngày 15 tháng 3 năm Đinh Mùi (1847), tổ chức việc khắc chữ triện vào Ngọc tỉ đúng theo nghi lễ.
Hôm đó vua Thiệu Trị đích thân làm lễ Đại tự, thỉnh mệnh trời đất, kính yết Tổ khảo giúp vận nước lâu dài, và khắc lên mặt ấn ngọc 9 chữ Triện: “Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỉ” (Ngọc Tỷ truyền quốc của nước Đại Nam, nhận mệnh lâu dài từ trời)Nghi lễ xong xuôi, vua lệnh cho các cung giám phụng mang cất giữ cẩn thận ở điện Trung Hòa trong Càn Thành.
Với bảo ấn đó, vua Thiệu Trị cho dùng đóng trên những bản sắc mệnh ban cho các nước chư hầu, những việc ban bố cho thiên hạ và nó được coi trọng bảo vệ như Kim bảo “Nam Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn tri bảo” được đúc theo lệnh của chúa của Minh Vương Nguyễn Phúc Chu và truyền lại sử dụng trong thời gian cầm quyền của các chúa Nguyễn sau đó.
(Ảnh: Internet)
(Ảnh: Internet)
3. Vua Đồng Khánh và chiếc ấn làm từ “thiên thạch”Để tỏ ý thân thiện hữu hảo với vua Đồng Khánh, chính phủ Pháp một món quà rất đặc biệt. “Đối với một vị con Trời như vua Đồng Khánh, không gì hay hơn là nên tặng vua một bảo vật đến từ trời. Vậy, tôi xin yêu cầu chính phủ xứ ta hãy cố tìm cho ra một thiên thạch, sau đó hãy khắc và tiện nó ra thành một cái ấn qúy”, Stanislas Meunier – nhà địa chất học, khoáng vật học, nhà báo khoa học- đã cố vấn cho Tổng thống Pháp và nhận trọng trách đi tìm báu vật.
(Ảnh: Internet)
Viên thiên thạch ‘trong mơ’ ấy cuối cùng cũng đã được tìm thấy tại thành phố Vienne – Áo. (Ảnh minh hoạ: Internet)
Stanislas Meunier đã phải khắp các nơi để tìm một thiên thạch vừa ý, cuối cùng, tại thành phố Vienne (Áo), ông mới mua được một khối đá đã rơi xuống trái đất vào ngày 30/1/1868 tại Pultusk (Ba Lan). Thiên thạch này không bị nứt nẻ, có dáng đẹp mắt, kích thước thích hợp. Ông mừng quá và mang về giao cho thợ kim hoàn chế tạo. Mặt ấn bằng vàng ròng, có khắc chữ: “Le gouvernement de la République Française à S. M. Dong-Khanh, roi d’Annam” (Chính phủ cộng hoà Pháp tặng vua Đồng Khánh, quốc vương xứ An Nam).
Chiếc ấn của chính phủ Pháp tặng vua Đồng Khánh và mặt ấn. (Ảnh: Sachxua)
Chiếc ấn của chính phủ Pháp tặng vua Đồng Khánh và mặt ấn. (Ảnh: Sachxua)
Theo sách “Đồng Khánh chính yếu”, món quà này được gửi tới vua Đồng Khánh vào tháng 12 năm Đinh Hợi (1887). Khi nhận được chiếc ấn ngọc được gọi là Kim tinh hắc hỏa, vua đã viết thư cảm ơn chính phủ Pháp sau đó ban hành tờ cáo dụ cho toàn dân được biết.
4. Chiếc ấn báu nặng nhất thuộc về vị vua cuối cùng Bảo Đại – 10,7kg
Chiếc ấn quan trọng nhất, biểu tượng cho hoàng đế là ấn Hoàng đế chi bảo. Chiếc bảo ấn lớn và đẹp nhất Triều Nguyễn này được đúc bằng vàng ròng vào mồng 4 tháng 2 năm Minh Mạng thứ tư (15-3-1823). Căn cứ theo ảnh tư liệu có được, TS. Phan Thanh Hải – Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế, mô tả bảo ấn này như sau:
ngoc ti 4
Ấn Hoàng Đế chi bảo nặng nhất (10,7kg vàng) hiện đang ở tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. (Ảnh: Internet)
… Ấn đúc hình vuông, quai ấn là một con rồng uốn khúc, đầu ngẩng cao, mắt nhìn thẳng về phía trước. Đỉnh đầu rồng khắc hình chữ vương; kỳ (vây lưng) dựng đứng; đuôi cũng dựng đứng, vây đuôi uốn cong về phía trước; 4 chân rồng đúc rõ 5 móng, tư thế chống chân xuống mặt ấn rất vững vàng. Mặt dưới của ấn khắc 4 chữ triện Hoàng đế chi bảo. Mặt trên của ấn, phía 2 bên quai khắc nổi 2 dòng chữ: Minh Mạng tứ niên nhị nguyệt sơ tứ nhật cát thời chú tạo (đúc vào giờ tốt mồng 4 tháng 2 năm Minh Mạng thứ 4); Thập thành hoàng kim, trọng nhị bách thập lạng cửu tiền nhị phân (đúc bằng vàng, trọng lượng 280 lạng 9 chỉ 2 phân – Nếu tính 27 lạng tương đương 1kg thì chiếc ấn này nặng khoảng 10,7kg)”.
Theo quy định của Triều Nguyễn, ấn Hoàng đế chi bảo chỉ dùng khi “…gặp khánh tiết ban ơn, đại xá thiên hạ cũng là các cáo dụ thân huân, đi tuần thú các nơi để xem xét các địa phương, mọi điển lễ long trọng ấy, và ban sắc, thư cho ngoại quốc”.
(Ảnh: Internet)
Kim Ngọc Bảo Tỷ “Sắc mệnh chi bảo” thời vua Minh Mạng (Ảnh chụp lại từ sách “Kim Ngọc Bảo Tỷ của hoàng đế và vương hậu triều Nguyễn Việt Nam”).