Thứ Năm, 15 tháng 6, 2017

văn hóa Huế

Nhiều tác giả viết về văn hóa Huế có lưu ý đến vấn đề này. Nhưng nghiên cứu kỹ tại thực địa thì hầu như chưa có ai. Chính thực địa cho ta biết rõ và chính xác hơn một vài sự khác biệt để ta có thể hiểu rõ thêm về văn hóa sâu rộng của đất thần kinh.
1- TỨ
Đây là bộ tranh cổ truyền, thường gồm ba bộ, có sự khác biệt rõ trong các bộ tranh này. Nếu ta không chú ý thường rất dễ nhầm lẫn
a- Tứ hữu (4 người bạn) Mai, Lan, Cúc, Trúc
b- Tứ thời (4 mùa) Mai, Liên, Cúc, Tùng Xuân, Mai đi với chim (Mai Điểu) Hạ, Liên (Sen) đi với vịt (Liên Áp) Thu, Cúc đi với bướm (Cúc Điệp) Đông, Tùng đi với hạc (Tùng Hạc) Tất cả bức tranh tứ thời được ghép bằng sành sứ rất mỹ thuật trong Khải Thành Điện trên Ứng Lăng (Lăng vua Khải Định).
c- Tứ quý (Les quatres nobles) Mai, Liên, Cúc, Trúc.
2 – NGŨ
Có nhiều loại ở đây chúng tôi xin được nhắc đến ngũ phúc và ngũ quả.
a- Ngũ phúc: Con dơi đóng vai trò quan trọng trong trang trí Huế, nó biểu trưng cho hạnh phúc. Trong tiếng Hán Việt phúc (dơi) khi được đọc lên nghe như âm phúc trong hạnh phúc nên người ta mượn hình ảnh của con dơi để diễn tả hạnh phúc.
Dơi có thể ngậm khánh (đá). Khánh cũng có nghĩa là vui mừng. Vậy dơi ngậm khánh đá có nghĩa là đại hạnh phúc cũng có nghĩa là song hỷ (double happiness).
Dơi ngậm thọ có nghĩa là hạnh phúc và trường thọ.
Dơi ngậm giỏ hoa một trong bát bửu tượng trưng cho lạc thú và hạnh phúc.
Dơi cũng ngậm tua quả (dơi tua) và nút thiêng (là những điềm lành trong Phật giáo) thường được trang trí ở sập.
Dơi còn được trang trí trong các Đình, Chùa, Phủ đệ … và được tượng trưng cho phúc thần.
Ngũ phúc là 5 con dơi tượng trưng cho:
– Thọ
– Phú
– Khang ninh
– Du hảo Đức
– Khảo chung mệnh (chết già, tự nhiên không đau ốm, còn có nghĩa là chết theo thứ tự, ông rồi đến cha…)
b- Ngũ quả: Mâm ngũ quả không nhất thiết phải đủ 5 loại quả, có thể ít hơn hoặc nhiều hơn.
Mâm ngũ quả không có trong bàn thờ Tết (khác với tiết) của người Trung Hoa.
Họ chỉ sử dụng những quả sau để suy đoán sự được mùa của ngũ cốc.
Mận chủ về Đậu
Hạnh chủ về lúa Mì
Đào chủ vẽ Liễu Mạch
Lật (hạt dẻ) chủ về Nếp hương
Táo chủ và lúa (Chiêm Thư)
Chúng ta cũng biết số 5 ở giữa Lạc Thư nên số 5 được dùng để chỉ Trung tâm và Ngũ quả tượng trương cho sự đầy đủ của lễ vật.
vanhoahue-2
vanhoahue-3
Vào đời nhà Hạ, vua Vũ khi đi trị thủy thấy một con rùa nổi lên mặt nước khi trở về nhà Vua đã vẽ lại những gì thấy trên con rùa và phân chia làm 9 loại (xem hình vẽ). Đây là nhan đề các chương trong Thư Kinh: Ngũ Sự, Ngũ Hành, Tam Đức, Lục Cực, Tứ Chứng…Ngũ Phúc, Ngũ Ký 2.
Tất cả những điểm trên con rùa tạo thành một hình vuông. Triết lý Trung Hoa dựa và Lạc Thư cho là quả Đất có hình vuông!
Những ngũ quả Huế có gì đặc biệt
Nhìn lại mâm ngũ quả trên Xương Lăng (tranh gương), trên Ứng Lăng (ghép sành sứ) và dựa vào sách vở xưa ta thấy ngũ quả ở Huế thường là:
Quả Lựu, quả Mãn Cầu, quả Lê, quả Đào, quả Phật thủ, quả Dưa…
Nhưng vấn đề đặt ra cho chúng ta là tại sao lại là những quả này; điều đáng lưu ý thêm là trong trang trí cách điệu (hóa) ở Huế. Lê hóa Kỳ lân, Đào hóa Rùa, Phật thủ hóa Đầu rồng nhìn chính diện, Mãn cầu hóa Phượng và theo những nghệ nhân xưa ở Huế 4 loại này là Tứ hữu.
– Lựu, Mãn cầu: nhiều hạt, hạt trong tiếng Hán Việt là tử, tử cũng có nghĩa là con, vậy Lựu, Mãn cầu trong mâm ngũ quả Huế hàm nghĩa đa tử, đa tôn, đa phú quý. Ở Trung Hoa Lựu còn được tượng trương cho đôi tân hôn, biểu tưởng cho hạnh phúc.
– Lê: Lê tử cũng là bằng chứng nhiều con, ở Trung Hoa, Lê tử được phát âm như “Lập tử” nghĩa là tạo hậu duệ, điều quan trọng nhất trong Khổng giáo
– Đào: Tượng trương cho sự trường thọ (tích Tây Vương Mẫu dâng 7 quả đào tiên cho Hán Vũ Đế).
– Dưa cũng tượng trương cho sự phì nhiêu, sinh nở vì nhiều hạt (tử)…
3- BÁT (BỬU)
Kể trong những họa tiết trình bày những vật vô tri, bát bửu thấy được sử dụng trên xà nhà, Panô ở tường, đôi khi trên những đồ đạc trong nhà hoặc trên tráp.
Điều đáng nói là bát bửu không cố định nhất là trong trang trí Huế (thay đờn bằng mao tiết, tượng trưng cho vua như trên Ứng Lăng).
Vậy là mỗi một tác giả lại thêm vào hoặc bớt ra một vài loại và đến các nghệ nhân lại cũng như vậy.
– Bát bữu theo P. Huỳnh Tịnh Của.
+ Bầu trời (la Calebasse)
+ Quạt vả (quạt có hình lá vả)
+ Gươm
+ Đờn
+ Tháo sách (bó sách)
+ Tháp viết
+ Quyển sáo
+ Chủ phất (phất trần)
Theo Tissot trong Cours Supérieur d’Anamite (1909) Bát bữu ở Bắc Kỳ:
+ Pho sách
+ Như ý
+ Quần thơ
+ Cái Lẳng
+ Bầu rượu (la Calebasse)
+ Cái đàn
+ Cái quạt
+ Phất trần
Theo E.G. Dumoutier (1891) Bát bửu gồm có:
+ Đôi sáo
+ Cuốn thư
+ Đàn tì bà
+ Lang (lẳng)
+ Quạt
+ Pho sách
+ Khánh
+ Quả bầu
Cũng theo E.G. Dumoutier 3 trong bát bửu sáo,đàn khánh, nhạc cụ tượng trưng cho bát âm (bào, thổ, cách, mộc, thạch, kim, ti, trúc) (thính).
Hiện nay khánh không còn được coi như cổ đồ trong các đền, chùa … nhưng vẫn đứng đấu trong các dụng cụ âm nhạc.
Bát bửu, ghép sành sứ ở Khải Thành Điện (Ảnh Dương Đình Châu)
Lẳng hoa tượng trưng cho sự trổi dậy của mùa xuân sau mùa đông ảm đạm, sự bừng nở của tuổi trẻ, sự hoan lạc (khứu, thị). Quạt là làn gió nhẹ xua đi sự oi bức của mùa hè và tượng trưng cho cái duyên phụ nữ.
Cuốn thư tượng trưng cho văn chương.
Sách tượng trưng cho sự hiểu biết.
Trái bầu tượng trưng cho sự bình phục khỏi bệnh do ngày xưa người Trung Hoa đựng các vị thuốc trong trái bầu. Trái bầu còn là biểu tượng của hạnh phúc, ngày xưa rượu hợp cẩn được chứa trong ½ trái bầu. Trái bầu còn là vật mang lại hạnh phúc, xưa kia người Trung Hoa thường mang trên người trái bầu bằng gỗ liễu, trái bầu còn là vật phát ra âm thanh. Trong phật giáo trái bầu là vật tích thiện, tích đức, tích phúc …
Bát bửu thường để trong đình, chùa, đền, miếu…
Bát bửu có nguồn gốc Trung Hoa cũng như hầu hết những trang trí ở An Nam.
Trong cuốn nghệ thuật Trung Hoa. Bushell đã viết bát bửu tượng trưng cho Lão giáo.
– Quạt của Chung Ly Quyền (Hán Chung Ly) làm hồi sinh những linh hồn đã chết.
– Kiếm có thần lực (Lã Đông Lân)
– Trái bầu thần bí (Lý Thiết Quài)
– Đôi xênh (Tào Quốc Cậu)
– Lẳng hoa (Lâm Thái Hòa)
– Gậy (Trương Quả Lão)
– Ống Tiêu (Hàn Tương Tử)
– Hoa sen (Hà Tiên Cô)
Nghệ thuật trang trí Huế chịu ảnh hưởng nặng nề của Trung Hoa vô cùng đa dạng từ vật vô tri cho đến hoa, lá, cành, quả; tứ linh (long, ly, qui, phụng); con dơi, con sư tử, con cá cho đến tranh phong cảnh.
Đây là loại hình nghệ thuật rất đa dạng có tính bác học ngay cả với những người có ít nhiều kiến thức.
Ví dụ như thật khó phân biệt đâu là Kỳ, Lân, Long Mã, Nghê … hoặc phân biệt giữa Rồng, Giao và Cù … cũng như Tứ hữu, Tứ thời, Tứ quý…
Nhưng dần dần loại hình nghệ thuật này đã lan tỏa trong dân gian lại được các nghệ nhân thể hiện theo ý tưởng của mình nên nghệ thuật này ngày càng phong phú về hình thể cũng như về ý nghĩa.

1 Viết và phóng dịch theo :
  • Linh Mục L. Cadière (l’Art à Hué)- E.G. Dumoutier (Les Symboles, Les Emblèmes et Les Accessoires du culte chez les Anamites, 1891)- P.Huard & M.Durand (Connaissance du Viet Nam)- P. Huỳnh Tịnh Của (Đại Nam Quốc Âm Tự Vị)- Huỳnh Ngọc Trảng (Mâm ngũ quả ngày Tết) – Thực địa tại Xương Lăng và Ứng Lăng …
2 E.G.Dumoutier, sđd trang 29 5

Thứ Tư, 14 tháng 6, 2017

Đề tài trang trí trong kiến trúc truyền thống

hình tượng trang trí thường gặp trong kiến trúc cổ truyền thống từ Bắc tới Nam, mang đậm ảnh hưởng của Phật Giáo và một số đạo khác như Đạo Giáo, Nho giáo.
Đề tài trang trí trong kiến trúc truyền thống
Trong các công trình kiến trúc gỗ truyền thống tại Việt Nam nhất là đối với các công tình mang yếu tố tôn giáo và tín ngưỡng như đình, đền, chùa , miếu... thì mảng điêu khắc được đánh giá là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất tạo nên vẻ đẹp cho công trình. Em xin giới thiệu đến các anh chị các hình tượng trang trí thường gặp trong kiến trúc cổ truyền thống từ Bắc tới Nam, mang đậm ảnh hưởng của Phật Giáo và một số đạo khác như Đạo Giáo, Nho giáo.
Các hình tượng trang trí đơn lẻ

Con rồng
các dạng trang trí hình rồng phát triển theo từng thời kỳ, mang những đặc điểm mỹ thuật khác nhau. Trong kiến trúc Phật giáo Việt Nam, hình tượng con rồng cũng được phát hiện từ những di vật còn lại từ thời Lý.

Con rồng thể hiện cho tâm linh, gắn liền với vua (theo quan niệm phong kiến), biểu hiện ước mong mưa rhuận gió hoà (dân gian). Trang trí trên bệ tháp, cấu kiện gỗ, đỉnh mái... Những di tích như chùa Dạm (Bắc Ninh), chùa Long Ðọi ( Hà Nam)...



H1a. Rồng chạm đầu dư


H1b. Rồng trang trí trên cửa

Con lân

Được gọi đầy đủ là kỳ lân (còn gọi là con nghê, con ly và dân gian gọi là con sấu). Hình tượng con Lân được định hình từ thời Lý và phát triển cho đến suốt thời Nguyễn.
Kỳ lân là phát triển của long mã, biểu tượng cho sự kết hợp thời gian và không gian, cho sự an bình. Trang trí trên cấu kiện gỗ (gặp ở nhiều chùa), thành bậc (chùa Bà tấm, Hà Nội), tượng tròn (chùa Phật Tích, Bắc Ninh).



H2. Tượng lân đá tại chùa Phật Tích

Rùa: ít gặp trong kiến trúc Phật giáo
Biểu trưng cho sự bền vững của xã tắc (trong phạm vi cung đình) và sự sống lâu, trường thọ (dân gian), Thường thấy sử dụng như con vật đỡ chân bia tại các chùa.



H3. Rùa đội bia
Chim Phượng: ít gặp trong điêu khắc Phật giáo.
Chim Phượng không gắn nhiều với Phật giáo mà chỉ tượng trưng cho điềm lành, mỗi khi xuất hiện thì báo hiệu đất nước thái bình, phồn thịnh, vẻ đẹp của phụ nữ... Thường được chạm khắc trên cốn, thành bậc, đầu dư, đầu đao...


H4. Đầu đao hình chim Phượng

Hoa sen: Từ thời Lý đã sử dụng hoa sen trong biểu tượng chùa Một Cột, bệ tượng Phật A Di Ðà chùa Phật Tích.
Biểu hiện cho sự trong sạch thanh cao, biểu tượng cho sự thanh tịnh của Phật giáo. Ðỉnh tháp, chân tảng, bệ Phật, diềm bia.



H5. Trang trí hoa sen trên chân tảng

Hoa cúc:
Hoa cúc thời Lý Trần thường thể hiện với dạng dây lượn hình sin. Lúc đầu hoa cúc phổ biến ở Trung Quốc với biểu trưng Ðạo giáo, về sau ảnh hưởng vào Phật giáo như một biểu tượng bình dị, thanh cao, kín đáo và lâu bền.


H6. Trang trí hoa cúc chùa Phổ Minh

Lá đề:
Cây Bồ đề biểu trưng cho sự đại giác của đức Phật. được sử dụng rất nhiều trong trang trí điêu khắc như vòm cửa chùa tháp thời Lý.


H7. Trang trí lá đề tháp Bình Sơn - Vĩnh Phúc

Hình cá:
Tượng trưng cho sự giàu có, phồn thịnh hay gặp trong trang trí cấu kiện gỗ cùng sóng nước.


H8. Trang trí cá trên cốn gỗ

Con trâu:
Hình tượng trâu cũng xuất hiện từ thoì nguyên thuỷ trong văn hoá Hoà Bình. Và hình tượng trâu còn thấy được ở kiến trúc Phật giáo là bắt đầu từ thời Lý.
Con trâu rất có ý nghĩa trong nhà Phật, thể hiện qua bức tranh thập mục chăn trâu. Tượng tròn (chùa Phật Tích), lan can đá ( chùa Bút Tháp)



H9. Hình tượng con trâu lan can đá chùa Bút Tháp

Sư tử:
là đề tài trang trí phổ biến ở thời Lý hơn các thời sau này. Sư tử hí cầu nghĩa như vật bảo vệ giáo pháp.
Có thể gặp tượng sư tử ở chùa Hương Lãng, bệ có 2 con sư tử đỡ ở chùa Bà Tấm. Các chòm lông và đuôi sư tử thường xoắn lại theo kiểu trôn ốc hoặc xoè ra.


H10. Sư tử đá đỡ bệ tượng chùa Bà Tấm
Con hổ:
Nền văn hoá Ðông Sơn cách đây trên dưới 2500 năm đã xuất hiện rất nhiều tượng hổ. Thời Trần bắt đầu xuất hiện tượng hổ.
Theo tín ngưỡng của dân ta thì hổ tượng trưng cho vị thần bảo vệ, trấn giữ các phương chống lại mọi tà ma, đảm bảo cho cuộc sống phát triển. Bệ đá tam bảo ( chùa Ðại Bi Hà Tây), chạm khắc trên kẻ ( chùa Sơn Ðồng, Hà Tây), hai bên tam quan (chùa Long Tiên Quảng Ninh)


H11. Phù điêu hổ chùa ông Bổn - tp ****


Con ngựa: Thời Lý
Xuất hiện dưới dạng tượng tròn (chùa Phật Tích), lan can đá (chùa Bút Tháp). Theo Phật thoại, ngựa trắng khi không có người cưỡi là biểu tượng của Phật.


H12. Trang trí ngựa tường hồi chùa Hưng Ký


Nhạc công thiên thần (Gandharva)
Thời Lý - Mạc, ảnh hưởng ấn Ðộ giáo của người Chăm.
Thường gặp ở hình ảnh đoàn nhạc công tấu nhạc mừng Ðức Phật đản sinh


H13. Trang trí tại chùa Phật Tích

Nữ thần đầu người mình chim (Kinnarri)
được sử dụng trong thời Lý đến Mạc, ảnh hưởng ấn Ðộ giáo của người Chăm.
Có thể gặp ở những dạng tượng người chim chùa Phật Tích, chùa Long đọi, nữ thần đầu người mình chim.


H14. Nữ thần đầu người mình chim chạm trên cốn gỗ chùa Thái Lạc

Tiên nữ (apsara):
Thời Lý - Mạc, ảnh hưởng ấn Ðộ giáo của người Chăm.
Tiên nữ múa hát dâng hoa xuất hiện gắn liền với các sự kiện trong cuộc đời của đức Phật như đức Phật đản sinh, đắc đạo, nhập Niết Bàn... Ðiêu khắc trên cốn gỗ chùa Thái Lạc.


H15. Tiên nữ cưỡi Phượng chùa Thái Lạc

Chim thần Garuđa :
Thời Lý - Mạc. Hình tượng của ấn Ðộ giáo sử dụng trong văn hoá Chăm.
Tiêu biểu cho sức mạnh và chân lý . Thường gặp ở tư thế nâng đỡ góc đền tháp và bệ tượng.


H16. Chim thần bệ tượng chùa Bối Khê

Bánh xe pháp luân:
Sử dụng trong thời Nguyễn đến nay.
Biểu tượng sự giác ngộ của Ðức Phật và lần thuyết pháp đầu tiên của ngài. Trên mái các công trình, ví dụ như đầu đao chùa Quán Sứ.



H17. Bánh xe Pháp luân trang trí trên đầu đao viện đại học Vạn Hạnh

Hồi văn chữ Vạn, chữ công
Thường thấy trên bờ nóc mái, diềm bia, chạm trổ cửa.



H18. Chữ Vạn cách điệu cửa chùa Nành - Gia Lâm

Chữ Thọ, Hỉ
Thường sử dụng là cửa sổ , trang trí cửa đi cách điệu


H19. Cổng chùa Hưng Ký - Chữ Thọ cách điệu

Con người
Người đỡ toà sen chùa Dương Liễu thời Mạc. Vua đỡ bệ tượng Phật chùa Hoè Nhai


H20. Chạm người chùa Thái Lạc
Các mô típ trang trí thường gặp và đề tài trang trí phức hợp

Lưỡng long triều nhật (lưỡng long chầu nguyệt) ( sử dụng và phát triển từ thời Nguyễn về sau). Rồng chầu hoa cúc, hoa hướng dương đều là các dạng của lưỡng long triều nhật
ý nghĩa cầu trời mưa, hình tròn có ngọn lửa tượng trưng cho sấm sét, nguồn nước, mang đến mùa màng tươi tốt.. Hoa cúc và hoa hướng dương cũng được sử dụng tượng trưng cho mặt trời.


H21. Mô típ lưỡng long triều Nhật trên bờ nóc

Cá hoá rồng: thường gặp thời Nho học thịnh đạt, thời Nguyễn
Gợi nhớ đến sự đỗ đạt trong các kỳ thi và được Vua phong chức tước. Ðây là một minh chứng cho việc ảnh hưởng sâu sắc của trang trí đề tài Nho học vào Phật giáo.


H22. Cá hoá long bằng gốm thường gặp ở đình chùa miền Nam

Rồng hoá lá, rồng hoá cây...
Rồng thường thấy trong mô típ trang trí này là rồng hoá lá, rồng hoá cây hoặc cây hoá rồng, dây lá hoá rồng.


H23. Mô típ rồng hoá cây

Ngư long hí thuỷ
Rồng và cá chép vờn nhau trong sóng nước
Mô típ trang trí khá phổ biến trong trang trí đình chùa Bắc Bộ


H24. Trang trí trên cốn

Phúc khánh, Phúc thọ, Ngũ phúc
Hình con dơi ngậm chiếng khánh có tua có nghĩa là hạnh phúc và sung sướng. Hình con dơi kết hợp với chữ thọ biểu tượng cho sự hạnh phúc và trường thọ. Năm con dơi trên mộtbức chạm, tượng trưng cho sự chúc tụng đầy đủ nhất.


H25. Trang trí ngũ phúc trên cánh cửa
Bát bảo
gồm bầu, tháp bút, quạt vả, ống tiêu, giỏ hoa, cây kiếm, khánh, phất trần.
Là các trang trí mang tính chất Ðạo giáo, đôi lúc được sử dụng trong trang trí một số công trình chùa chịu ảnh hưởng nhiều từ Trung Quốc như chùa Hoa, chùa người gốc Hoa xây dựng...


H26. Kiếm và quạt trong trang trí chùa ông Bổn
Bát quả gồm đào, lựu, mận, lê, phật thủ, nho, bầu bí.


H27. Trang trí trên lan can chùa Vạn Niên - Tây Hồ - Hà Nội

Tứ quý gồm mai lan cúc trúc.
Thường gặp kết hợp mai điểu, mai hạc, lan điệp, cúc điệp, trúc tước, trúc yến hoặc trúc hổ.


H28. Trang trí cúc điệp trên cánh cửa

Tứ thời gồm mai, sen, cúc, tùng.
Ðồ án trang trí là mai điểu, liên áp, cúc điệp, tùng lộc hay tùnghạc. Trong trang trí chạm khắc các chi tiết kiến trúc như cửa võng, cánh cửa...


H29. Trang trí tùng hạc trên cánh cửa

Hoa sen kết hợp với hoa cúc: Thường gặp ở thời Lý
Tượng trưng cho âm dương giao hoà. Thường gặp ở trang trí diềm bia, chạm khắc trang trí trên tháp cổ.


H30. Trang trí hoa văn tháp Phổ Minh

Mây trời, sóng nước : Thời Lý, Trần
thường gặp ở trang trí hoa văn tháp cổ, bệ tượng Phật thời Lý.



H31. Sóng nước trên chân bệ tượng chùa Phật Tích

(trích phụ lục luận văn TLC)

Thứ Năm, 18 tháng 5, 2017

“giới tử thư” (thư dạy con)

Gia Cát Lượng đã viết trong “giới tử thư” (thư dạy con): “Làm theo đạo của người quân tử, tu thân thanh tịnh, cần kiệm để dưỡng đức, đạm bạc để nuôi dưỡng chí, tĩnh lặng để nghĩ xa.”

Thứ Hai, 15 tháng 5, 2017

Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc


Ngôi nhà 300 năm tuổi làm bằng gỗ lim ở vùng quê Kinh Bắc của dòng họ Nguyễn Thạc (làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh) dựng từ năm 1686, được UNESCO trao giải thưởng công trạng trong bảo tồn di tích.

Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc
Năm 1686, cụ Diệu Đình Hầu - Nguyễn Thạc Lượng và vợ là bà Nguyễn Thị Nguyện mang theo 8 bè gỗ lim từ Thanh Hóa về Đình Bảng (Bắc Ninh) để dựng nhà. Số gỗ này đủ dựng hai ngôi từ đường cho dòng họ Nguyễn Thạc, một khu nhà dành cho con trưởng của dòng họ và đình làng Đình Bảng. Cụ Lượng còn mang một cây gỗ nghiến cổ thụ để làm dùi, đục.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 1
Khu nhà của dòng họ Nguyễn Thạc xây dựng trong vòng 14 năm, từ năm 1686 đến năm 1700, gồm một khu thờ tự; một khu để ở, tiếp khách và bếp. Nhà trong ảnh vốn là nơi thờ tự của gia đình, còn nơi ở và tiếp khách là một nhà 7 gian khác phía sân trước mặt. Do hoàn cảnh khó khăn nên năm 1958, gia đình đã dỡ gian này để bán cho một đại gia ở Đồng Kỵ.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 2
Ông Nguyễn Thạc Sủng, đời thứ 10 sống ở đây, cho biết, thời Pháp thuộc, ngôi nhà bị chiếm đóng 6 năm. Sau năm 1954, bà con trở về quê cũ, làng mạc tan tác hết, chỉ còn ngôi nhà này vẫn chưa bị phá. Trải qua mấy trăm năm, căn nhà bị xuống cấp. Năm 1996, Đại học nữ Chiêu Hòa (Nhật Bản) đã đầu tư khoảng một tỷ đồng để trùng tu.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 3
Theo khảo sát của Nhật Bản, chỉ còn khoảng 10 ngôi nhà có niên đại 300 năm ở Việt Nam. Ngôi nhà của dòng họ Nguyễn Thạc tiêu biểu cho kiến trúc vùng Kinh Bắc, được làm hoàn toàn từ gỗ lim, có tới 60 cây cột, không có mối mọt và có thể chống được ẩm. Trước nhà có sân rộng, bể nước, vườn cây cảnh.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 4
Hiên nhà vừa là nơi hóng mát vào những ngày hè oi bức, vừa tránh mưa gió không hắt vào nơi ở. Mái nhà
dân gian thường lợp ngói vẩy cá, dốc 30 độ, giúp nước mưa dễ chảy xuống.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 5
Chi tiết hoa văn được chạm trổ với hình rồng, mây vờn, hoa lá. Các họa tiết có sự đồng điệu giữa cột cái,
cột quân và cột nghiêng trong một bộ vỉ kèo, từ đó dễ nhận biết được đặc trưng kiến trúc nhà ở dân gian
Bắc Ninh.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 6
Trải qua 314 năm, những chi tiết chạm trổ vẫn chắc chắn, không hề bị mối mọt.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 7
Nhà hiện có 7 gian, 3 gian chính giữa là nơi thờ tự, nơi quan trọng nhất trong nhà ở dân gian Bắc Bộ. Gian thờ chính nằm giữa với hoành phi, câu đối chạm khắc tỉ mỉ là nơi đặt bài vị của tổ tiên họ Nguyễn Thạc. Đây cũng là nơi trưng bày các sắc phong của triều Lê - Trịnh cho những người đỗ đạt trong dòng họ.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 8
Ngôi nhà của dòng họ Nguyễn Thạc có sử dụng hệ cột gỗ đỡ mái xây - một kỹ thuật xây dựng gây kinh ngạc với các kiến trúc sư Nhật Bản khi phục chế ngôi nhà. Hệ cột chịu lực đỡ mái làm từ một tấn vật liệu bao gồm gạch, ngói và chất kết dính.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 9
Các cây cột cái làm từ gỗ lim có đường kính 90 cm, cao 4,3 m. Trải qua 300 năm, một số cột bị hư hỏng.
Sau khi được Nhật hỗ trợ trùng tu, những cây cột này có thể trụ được vài trăm năm nữa.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 10
Nhà có 28 cánh cửa bức bàn. Thời Pháp chiếm đóng, 27 cánh cửa bị đốt. Về sau, cánh cửa duy nhất còn lại được
dùng làm nguyên mẫu để đóng những cửa khác.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 11
Tương truyền, tốp thợ Thanh Hóa được chọn để làm ngôi nhà và đình Đình Bảng. Năm đó, thợ cả mang theo
cậu con trai 5 tuổi, đến lúc xong ngôi nhà này và đình Đình Bảng, cậu bé đã sang tuổi 55.
Nét đẹp cổ kính trong ngôi nhà gỗ lim vùng Kinh Bắc 12
Dòng họ Nguyễn Thạc có 228 năm liên tiếp làm quan. Trải qua thời gian, dòng họ còn lưu giữ được nhiều tư liệu quý như 12 cuốn gia phả, 11 đạo sắc phong, 5 lệnh chỉ, hoành phi, câu đối... Ngôi nhà này cùng với đình làng Đình Bảng là những công trình kiến trúc tiêu biểu cho vùng Kinh Bắc.

4 chiếc ấn báu ‘ngọc tỷ truyền quốc’ độc nhất vô nhị của vua chúa Việt Nam


Xuyên suốt lịch sử các vương triều ở Việt Nam, có rất nhiều loại ấn tín khác nhau, trong đó không thể không nhắc đến những ấn tín có xuất xứ khá đặc biệt.
Trong 143 năm tồn tại của mình, nhà Nguyễn cũng như các vương triều trước đó đều coi ấn tín biểu thị cho quyền lực tối cao, là báu vật của quốc gia và tượng trưng cho đế quyền. Triều Nguyễn đã cho làm hơn 100 chiếc ấn báu, có rất nhiều loại ấn tín khác nhau từ hình dáng đến họa tiết, chất liệu… Rất nhiều trong số đó là những ấn tín độc đáo có một không hai. 
1. Vua Minh Mạng và những chiếc ấn ngọc “tình cờ có được”
Điển hình nhất, có giá trị cao nhất là loại ấn tín của hoàng đế được gọi chung là “Kim ngọc Bảo tỷ”. Kim Ngọc Bảo tỷ là những ấn của nhà vua dùng trong trường hợp danh nghĩa quốc gia trọng đại hay được đóng trên các văn bản quan trọng. Những loại ấn này nếu được làm bằng ngọc gọi là “Ngọc tỷ”, được đúc bằng vàng gọi là “Kim Bảo tỷ”.
Vua Minh Mạng trong thời gian ở ngôi đã cho làm nhiều loại ấn tín bằng các chất liệu khác nhau với mục đích sử dụng cụ thể. Ngoài ra trong số ấn tín của vua lại có những chiếc ấn có được một cách tình cờ. Sách Minh Mạng chính yếu cho biết vào năm Mậu Tý (1828) “có người ở Quảng Trị là Nguyễn Đăng Khoa, được viên ngọc tỷ đem vào dâng vua, trong có khắc bốn chữ: “Vạn thọ vô cương” bằng lối chữ triện.”
Ngọc tỷ khắc chữ “Vạn Thọ vô cương” của vua Minh Mạng. (Ảnh: Doanhdoanh)
Ngọc tỷ khắc chữ “Vạn Thọ vô cương” của vua Minh Mạng. (Ảnh: Doanhdoanh)
Các quan đều tâu mừng rằng: “Đây là điềm đức Hoàng thượng thọ khảo và phúc quốc gia vô cương vậy!”. Nhà vua đem việc ấy mà dụ các quan rằng: “Khi trẫm mới lên ngôi, người ở Long triều đã từng dâng ngọc tỷ khắc bốn chữ: “Trung hòa vị dục”, nay lại được ngọc tỷ này, xem nghĩa bốn chữ ấy thì có lẽ là bảo vật của triều trước di truyền, để lâu ngày mờ ám nên chưa biết rõ”.
Về sau người ở Đông Trì, tỉnh Thừa Thiên là Hoàng Nghĩa Thắng đào được một ngọc tỷ đem dâng, trong có khắc bốn chữ nổi là: “Phong cương vạn thổ”.
Ngọc tỷ khắc chữ “Vạn Thọ vô cương” của vua Minh Mạng. (Ảnh: Doanhdoanh)
Phong cương vạn cổ được làm bằng loại bích ngọc, quai núm vuông, 4 mặt vát hình thang chạm khắc 2 hàng hồi văn chữ S, 4 phía thành hình chữ nhật. (Ảnh: Internet)
Trên mặt núm vuông chạm hình rồng. Mặt ấn chạm 4 chữ Triện: Phong cương vạn cổ. Ấn này không thấy ghi chép trong sách vở nào nhưng rất cổ kính và độc đáo.
Sách Quốc sử di biên cũng cho biết như sau: “Lấy được ấn ngọc ở Quảng Bình. Tôn Thất Sưởng bắt được ở xã Nhan Biều, trấn Quảng Bình, ấn có bốn chữ “Vạn thọ vô cương”. Chiếu cho dùng ấn ngọc này đóng vào tờ ấn chiếu tiết Vạn Thọ. Trước có 6 ấn ngọc như “Quốc gia tín bảo”, “Trị lịch minh thời”.v.v…, đến đây, tăng thêm 6 ấn ngọc nữa là “Hoàng đế chi tỷ”, “Tôn nhân chi tỷ”, “Khâm văn”, “Duệ vũ”, “Sắc chánh vạn dân” và “Thảo tội an dân”, cộng với 6 ấn cũ thành 12 ấn ngọc, đều tùy việc mà dùng”.
2. Chiếc ấn báu của vua Thiệu Trị được làm từ một viên ngọc cực quý hiếmTheo sử sách ghi lại, vào năm Bính Ngọ niên hiệu Thiệu Trị thứ 6 (1846) có người dân trong khi tìm vàng và đá quý ở núi Ngọc, huyện Hòa Điền, vùng đất Quảng Nam đã đào được một viên ngọc cực lớn, ánh sắc rực rỡ vô cùng bèn dâng vua. Thấy đây là viên ngọc quý hiếm, vua Thiệu Trị rất mừng cho là điềm may mắn liền sai quan Hữu tư mang đi mài dũa, chế tác làm thành quả ấn.
(Ảnh: Internet)
Ấn ngọc “Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ”. (Ảnh: Internet)
Sau thời gian một năm trời bỏ công sức, trổ hết tài năng, thợ khắc đã chế tác xong chiếc ấn dâng lên, vua Thiệu Trị xem thấy ngọc tỉ cứng rắn, đẹp đẽ, ôn nhuận sáng sủa, trên núm ấn là hình rồng uốn khúc, cao hơn 4 tấc, mặt hình dấu khắc theo hình vuông, kích thước 3,1×3,1cm. Nhà vua cũng quyết định chọn thời điểm đẹp, ngày tốt là ngày 15 tháng 3 năm Đinh Mùi (1847), tổ chức việc khắc chữ triện vào Ngọc tỉ đúng theo nghi lễ.
Hôm đó vua Thiệu Trị đích thân làm lễ Đại tự, thỉnh mệnh trời đất, kính yết Tổ khảo giúp vận nước lâu dài, và khắc lên mặt ấn ngọc 9 chữ Triện: “Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỉ” (Ngọc Tỷ truyền quốc của nước Đại Nam, nhận mệnh lâu dài từ trời)Nghi lễ xong xuôi, vua lệnh cho các cung giám phụng mang cất giữ cẩn thận ở điện Trung Hòa trong Càn Thành.
Với bảo ấn đó, vua Thiệu Trị cho dùng đóng trên những bản sắc mệnh ban cho các nước chư hầu, những việc ban bố cho thiên hạ và nó được coi trọng bảo vệ như Kim bảo “Nam Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn tri bảo” được đúc theo lệnh của chúa của Minh Vương Nguyễn Phúc Chu và truyền lại sử dụng trong thời gian cầm quyền của các chúa Nguyễn sau đó.
(Ảnh: Internet)
(Ảnh: Internet)
3. Vua Đồng Khánh và chiếc ấn làm từ “thiên thạch”Để tỏ ý thân thiện hữu hảo với vua Đồng Khánh, chính phủ Pháp một món quà rất đặc biệt. “Đối với một vị con Trời như vua Đồng Khánh, không gì hay hơn là nên tặng vua một bảo vật đến từ trời. Vậy, tôi xin yêu cầu chính phủ xứ ta hãy cố tìm cho ra một thiên thạch, sau đó hãy khắc và tiện nó ra thành một cái ấn qúy”, Stanislas Meunier – nhà địa chất học, khoáng vật học, nhà báo khoa học- đã cố vấn cho Tổng thống Pháp và nhận trọng trách đi tìm báu vật.
(Ảnh: Internet)
Viên thiên thạch ‘trong mơ’ ấy cuối cùng cũng đã được tìm thấy tại thành phố Vienne – Áo. (Ảnh minh hoạ: Internet)
Stanislas Meunier đã phải khắp các nơi để tìm một thiên thạch vừa ý, cuối cùng, tại thành phố Vienne (Áo), ông mới mua được một khối đá đã rơi xuống trái đất vào ngày 30/1/1868 tại Pultusk (Ba Lan). Thiên thạch này không bị nứt nẻ, có dáng đẹp mắt, kích thước thích hợp. Ông mừng quá và mang về giao cho thợ kim hoàn chế tạo. Mặt ấn bằng vàng ròng, có khắc chữ: “Le gouvernement de la République Française à S. M. Dong-Khanh, roi d’Annam” (Chính phủ cộng hoà Pháp tặng vua Đồng Khánh, quốc vương xứ An Nam).
Chiếc ấn của chính phủ Pháp tặng vua Đồng Khánh và mặt ấn. (Ảnh: Sachxua)
Chiếc ấn của chính phủ Pháp tặng vua Đồng Khánh và mặt ấn. (Ảnh: Sachxua)
Theo sách “Đồng Khánh chính yếu”, món quà này được gửi tới vua Đồng Khánh vào tháng 12 năm Đinh Hợi (1887). Khi nhận được chiếc ấn ngọc được gọi là Kim tinh hắc hỏa, vua đã viết thư cảm ơn chính phủ Pháp sau đó ban hành tờ cáo dụ cho toàn dân được biết.
4. Chiếc ấn báu nặng nhất thuộc về vị vua cuối cùng Bảo Đại – 10,7kg
Chiếc ấn quan trọng nhất, biểu tượng cho hoàng đế là ấn Hoàng đế chi bảo. Chiếc bảo ấn lớn và đẹp nhất Triều Nguyễn này được đúc bằng vàng ròng vào mồng 4 tháng 2 năm Minh Mạng thứ tư (15-3-1823). Căn cứ theo ảnh tư liệu có được, TS. Phan Thanh Hải – Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế, mô tả bảo ấn này như sau:
ngoc ti 4
Ấn Hoàng Đế chi bảo nặng nhất (10,7kg vàng) hiện đang ở tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. (Ảnh: Internet)
… Ấn đúc hình vuông, quai ấn là một con rồng uốn khúc, đầu ngẩng cao, mắt nhìn thẳng về phía trước. Đỉnh đầu rồng khắc hình chữ vương; kỳ (vây lưng) dựng đứng; đuôi cũng dựng đứng, vây đuôi uốn cong về phía trước; 4 chân rồng đúc rõ 5 móng, tư thế chống chân xuống mặt ấn rất vững vàng. Mặt dưới của ấn khắc 4 chữ triện Hoàng đế chi bảo. Mặt trên của ấn, phía 2 bên quai khắc nổi 2 dòng chữ: Minh Mạng tứ niên nhị nguyệt sơ tứ nhật cát thời chú tạo (đúc vào giờ tốt mồng 4 tháng 2 năm Minh Mạng thứ 4); Thập thành hoàng kim, trọng nhị bách thập lạng cửu tiền nhị phân (đúc bằng vàng, trọng lượng 280 lạng 9 chỉ 2 phân – Nếu tính 27 lạng tương đương 1kg thì chiếc ấn này nặng khoảng 10,7kg)”.
Theo quy định của Triều Nguyễn, ấn Hoàng đế chi bảo chỉ dùng khi “…gặp khánh tiết ban ơn, đại xá thiên hạ cũng là các cáo dụ thân huân, đi tuần thú các nơi để xem xét các địa phương, mọi điển lễ long trọng ấy, và ban sắc, thư cho ngoại quốc”.
(Ảnh: Internet)
Kim Ngọc Bảo Tỷ “Sắc mệnh chi bảo” thời vua Minh Mạng (Ảnh chụp lại từ sách “Kim Ngọc Bảo Tỷ của hoàng đế và vương hậu triều Nguyễn Việt Nam”).