Thứ Năm, 15 tháng 6, 2017

văn hóa Huế

Nhiều tác giả viết về văn hóa Huế có lưu ý đến vấn đề này. Nhưng nghiên cứu kỹ tại thực địa thì hầu như chưa có ai. Chính thực địa cho ta biết rõ và chính xác hơn một vài sự khác biệt để ta có thể hiểu rõ thêm về văn hóa sâu rộng của đất thần kinh.
1- TỨ
Đây là bộ tranh cổ truyền, thường gồm ba bộ, có sự khác biệt rõ trong các bộ tranh này. Nếu ta không chú ý thường rất dễ nhầm lẫn
a- Tứ hữu (4 người bạn) Mai, Lan, Cúc, Trúc
b- Tứ thời (4 mùa) Mai, Liên, Cúc, Tùng Xuân, Mai đi với chim (Mai Điểu) Hạ, Liên (Sen) đi với vịt (Liên Áp) Thu, Cúc đi với bướm (Cúc Điệp) Đông, Tùng đi với hạc (Tùng Hạc) Tất cả bức tranh tứ thời được ghép bằng sành sứ rất mỹ thuật trong Khải Thành Điện trên Ứng Lăng (Lăng vua Khải Định).
c- Tứ quý (Les quatres nobles) Mai, Liên, Cúc, Trúc.
2 – NGŨ
Có nhiều loại ở đây chúng tôi xin được nhắc đến ngũ phúc và ngũ quả.
a- Ngũ phúc: Con dơi đóng vai trò quan trọng trong trang trí Huế, nó biểu trưng cho hạnh phúc. Trong tiếng Hán Việt phúc (dơi) khi được đọc lên nghe như âm phúc trong hạnh phúc nên người ta mượn hình ảnh của con dơi để diễn tả hạnh phúc.
Dơi có thể ngậm khánh (đá). Khánh cũng có nghĩa là vui mừng. Vậy dơi ngậm khánh đá có nghĩa là đại hạnh phúc cũng có nghĩa là song hỷ (double happiness).
Dơi ngậm thọ có nghĩa là hạnh phúc và trường thọ.
Dơi ngậm giỏ hoa một trong bát bửu tượng trưng cho lạc thú và hạnh phúc.
Dơi cũng ngậm tua quả (dơi tua) và nút thiêng (là những điềm lành trong Phật giáo) thường được trang trí ở sập.
Dơi còn được trang trí trong các Đình, Chùa, Phủ đệ … và được tượng trưng cho phúc thần.
Ngũ phúc là 5 con dơi tượng trưng cho:
– Thọ
– Phú
– Khang ninh
– Du hảo Đức
– Khảo chung mệnh (chết già, tự nhiên không đau ốm, còn có nghĩa là chết theo thứ tự, ông rồi đến cha…)
b- Ngũ quả: Mâm ngũ quả không nhất thiết phải đủ 5 loại quả, có thể ít hơn hoặc nhiều hơn.
Mâm ngũ quả không có trong bàn thờ Tết (khác với tiết) của người Trung Hoa.
Họ chỉ sử dụng những quả sau để suy đoán sự được mùa của ngũ cốc.
Mận chủ về Đậu
Hạnh chủ về lúa Mì
Đào chủ vẽ Liễu Mạch
Lật (hạt dẻ) chủ về Nếp hương
Táo chủ và lúa (Chiêm Thư)
Chúng ta cũng biết số 5 ở giữa Lạc Thư nên số 5 được dùng để chỉ Trung tâm và Ngũ quả tượng trương cho sự đầy đủ của lễ vật.
vanhoahue-2
vanhoahue-3
Vào đời nhà Hạ, vua Vũ khi đi trị thủy thấy một con rùa nổi lên mặt nước khi trở về nhà Vua đã vẽ lại những gì thấy trên con rùa và phân chia làm 9 loại (xem hình vẽ). Đây là nhan đề các chương trong Thư Kinh: Ngũ Sự, Ngũ Hành, Tam Đức, Lục Cực, Tứ Chứng…Ngũ Phúc, Ngũ Ký 2.
Tất cả những điểm trên con rùa tạo thành một hình vuông. Triết lý Trung Hoa dựa và Lạc Thư cho là quả Đất có hình vuông!
Những ngũ quả Huế có gì đặc biệt
Nhìn lại mâm ngũ quả trên Xương Lăng (tranh gương), trên Ứng Lăng (ghép sành sứ) và dựa vào sách vở xưa ta thấy ngũ quả ở Huế thường là:
Quả Lựu, quả Mãn Cầu, quả Lê, quả Đào, quả Phật thủ, quả Dưa…
Nhưng vấn đề đặt ra cho chúng ta là tại sao lại là những quả này; điều đáng lưu ý thêm là trong trang trí cách điệu (hóa) ở Huế. Lê hóa Kỳ lân, Đào hóa Rùa, Phật thủ hóa Đầu rồng nhìn chính diện, Mãn cầu hóa Phượng và theo những nghệ nhân xưa ở Huế 4 loại này là Tứ hữu.
– Lựu, Mãn cầu: nhiều hạt, hạt trong tiếng Hán Việt là tử, tử cũng có nghĩa là con, vậy Lựu, Mãn cầu trong mâm ngũ quả Huế hàm nghĩa đa tử, đa tôn, đa phú quý. Ở Trung Hoa Lựu còn được tượng trương cho đôi tân hôn, biểu tưởng cho hạnh phúc.
– Lê: Lê tử cũng là bằng chứng nhiều con, ở Trung Hoa, Lê tử được phát âm như “Lập tử” nghĩa là tạo hậu duệ, điều quan trọng nhất trong Khổng giáo
– Đào: Tượng trương cho sự trường thọ (tích Tây Vương Mẫu dâng 7 quả đào tiên cho Hán Vũ Đế).
– Dưa cũng tượng trương cho sự phì nhiêu, sinh nở vì nhiều hạt (tử)…
3- BÁT (BỬU)
Kể trong những họa tiết trình bày những vật vô tri, bát bửu thấy được sử dụng trên xà nhà, Panô ở tường, đôi khi trên những đồ đạc trong nhà hoặc trên tráp.
Điều đáng nói là bát bửu không cố định nhất là trong trang trí Huế (thay đờn bằng mao tiết, tượng trưng cho vua như trên Ứng Lăng).
Vậy là mỗi một tác giả lại thêm vào hoặc bớt ra một vài loại và đến các nghệ nhân lại cũng như vậy.
– Bát bữu theo P. Huỳnh Tịnh Của.
+ Bầu trời (la Calebasse)
+ Quạt vả (quạt có hình lá vả)
+ Gươm
+ Đờn
+ Tháo sách (bó sách)
+ Tháp viết
+ Quyển sáo
+ Chủ phất (phất trần)
Theo Tissot trong Cours Supérieur d’Anamite (1909) Bát bữu ở Bắc Kỳ:
+ Pho sách
+ Như ý
+ Quần thơ
+ Cái Lẳng
+ Bầu rượu (la Calebasse)
+ Cái đàn
+ Cái quạt
+ Phất trần
Theo E.G. Dumoutier (1891) Bát bửu gồm có:
+ Đôi sáo
+ Cuốn thư
+ Đàn tì bà
+ Lang (lẳng)
+ Quạt
+ Pho sách
+ Khánh
+ Quả bầu
Cũng theo E.G. Dumoutier 3 trong bát bửu sáo,đàn khánh, nhạc cụ tượng trưng cho bát âm (bào, thổ, cách, mộc, thạch, kim, ti, trúc) (thính).
Hiện nay khánh không còn được coi như cổ đồ trong các đền, chùa … nhưng vẫn đứng đấu trong các dụng cụ âm nhạc.
Bát bửu, ghép sành sứ ở Khải Thành Điện (Ảnh Dương Đình Châu)
Lẳng hoa tượng trưng cho sự trổi dậy của mùa xuân sau mùa đông ảm đạm, sự bừng nở của tuổi trẻ, sự hoan lạc (khứu, thị). Quạt là làn gió nhẹ xua đi sự oi bức của mùa hè và tượng trưng cho cái duyên phụ nữ.
Cuốn thư tượng trưng cho văn chương.
Sách tượng trưng cho sự hiểu biết.
Trái bầu tượng trưng cho sự bình phục khỏi bệnh do ngày xưa người Trung Hoa đựng các vị thuốc trong trái bầu. Trái bầu còn là biểu tượng của hạnh phúc, ngày xưa rượu hợp cẩn được chứa trong ½ trái bầu. Trái bầu còn là vật mang lại hạnh phúc, xưa kia người Trung Hoa thường mang trên người trái bầu bằng gỗ liễu, trái bầu còn là vật phát ra âm thanh. Trong phật giáo trái bầu là vật tích thiện, tích đức, tích phúc …
Bát bửu thường để trong đình, chùa, đền, miếu…
Bát bửu có nguồn gốc Trung Hoa cũng như hầu hết những trang trí ở An Nam.
Trong cuốn nghệ thuật Trung Hoa. Bushell đã viết bát bửu tượng trưng cho Lão giáo.
– Quạt của Chung Ly Quyền (Hán Chung Ly) làm hồi sinh những linh hồn đã chết.
– Kiếm có thần lực (Lã Đông Lân)
– Trái bầu thần bí (Lý Thiết Quài)
– Đôi xênh (Tào Quốc Cậu)
– Lẳng hoa (Lâm Thái Hòa)
– Gậy (Trương Quả Lão)
– Ống Tiêu (Hàn Tương Tử)
– Hoa sen (Hà Tiên Cô)
Nghệ thuật trang trí Huế chịu ảnh hưởng nặng nề của Trung Hoa vô cùng đa dạng từ vật vô tri cho đến hoa, lá, cành, quả; tứ linh (long, ly, qui, phụng); con dơi, con sư tử, con cá cho đến tranh phong cảnh.
Đây là loại hình nghệ thuật rất đa dạng có tính bác học ngay cả với những người có ít nhiều kiến thức.
Ví dụ như thật khó phân biệt đâu là Kỳ, Lân, Long Mã, Nghê … hoặc phân biệt giữa Rồng, Giao và Cù … cũng như Tứ hữu, Tứ thời, Tứ quý…
Nhưng dần dần loại hình nghệ thuật này đã lan tỏa trong dân gian lại được các nghệ nhân thể hiện theo ý tưởng của mình nên nghệ thuật này ngày càng phong phú về hình thể cũng như về ý nghĩa.

1 Viết và phóng dịch theo :
  • Linh Mục L. Cadière (l’Art à Hué)- E.G. Dumoutier (Les Symboles, Les Emblèmes et Les Accessoires du culte chez les Anamites, 1891)- P.Huard & M.Durand (Connaissance du Viet Nam)- P. Huỳnh Tịnh Của (Đại Nam Quốc Âm Tự Vị)- Huỳnh Ngọc Trảng (Mâm ngũ quả ngày Tết) – Thực địa tại Xương Lăng và Ứng Lăng …
2 E.G.Dumoutier, sđd trang 29 5

Thứ Tư, 14 tháng 6, 2017

Đề tài trang trí trong kiến trúc truyền thống

hình tượng trang trí thường gặp trong kiến trúc cổ truyền thống từ Bắc tới Nam, mang đậm ảnh hưởng của Phật Giáo và một số đạo khác như Đạo Giáo, Nho giáo.
Đề tài trang trí trong kiến trúc truyền thống
Trong các công trình kiến trúc gỗ truyền thống tại Việt Nam nhất là đối với các công tình mang yếu tố tôn giáo và tín ngưỡng như đình, đền, chùa , miếu... thì mảng điêu khắc được đánh giá là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất tạo nên vẻ đẹp cho công trình. Em xin giới thiệu đến các anh chị các hình tượng trang trí thường gặp trong kiến trúc cổ truyền thống từ Bắc tới Nam, mang đậm ảnh hưởng của Phật Giáo và một số đạo khác như Đạo Giáo, Nho giáo.
Các hình tượng trang trí đơn lẻ

Con rồng
các dạng trang trí hình rồng phát triển theo từng thời kỳ, mang những đặc điểm mỹ thuật khác nhau. Trong kiến trúc Phật giáo Việt Nam, hình tượng con rồng cũng được phát hiện từ những di vật còn lại từ thời Lý.

Con rồng thể hiện cho tâm linh, gắn liền với vua (theo quan niệm phong kiến), biểu hiện ước mong mưa rhuận gió hoà (dân gian). Trang trí trên bệ tháp, cấu kiện gỗ, đỉnh mái... Những di tích như chùa Dạm (Bắc Ninh), chùa Long Ðọi ( Hà Nam)...



H1a. Rồng chạm đầu dư


H1b. Rồng trang trí trên cửa

Con lân

Được gọi đầy đủ là kỳ lân (còn gọi là con nghê, con ly và dân gian gọi là con sấu). Hình tượng con Lân được định hình từ thời Lý và phát triển cho đến suốt thời Nguyễn.
Kỳ lân là phát triển của long mã, biểu tượng cho sự kết hợp thời gian và không gian, cho sự an bình. Trang trí trên cấu kiện gỗ (gặp ở nhiều chùa), thành bậc (chùa Bà tấm, Hà Nội), tượng tròn (chùa Phật Tích, Bắc Ninh).



H2. Tượng lân đá tại chùa Phật Tích

Rùa: ít gặp trong kiến trúc Phật giáo
Biểu trưng cho sự bền vững của xã tắc (trong phạm vi cung đình) và sự sống lâu, trường thọ (dân gian), Thường thấy sử dụng như con vật đỡ chân bia tại các chùa.



H3. Rùa đội bia
Chim Phượng: ít gặp trong điêu khắc Phật giáo.
Chim Phượng không gắn nhiều với Phật giáo mà chỉ tượng trưng cho điềm lành, mỗi khi xuất hiện thì báo hiệu đất nước thái bình, phồn thịnh, vẻ đẹp của phụ nữ... Thường được chạm khắc trên cốn, thành bậc, đầu dư, đầu đao...


H4. Đầu đao hình chim Phượng

Hoa sen: Từ thời Lý đã sử dụng hoa sen trong biểu tượng chùa Một Cột, bệ tượng Phật A Di Ðà chùa Phật Tích.
Biểu hiện cho sự trong sạch thanh cao, biểu tượng cho sự thanh tịnh của Phật giáo. Ðỉnh tháp, chân tảng, bệ Phật, diềm bia.



H5. Trang trí hoa sen trên chân tảng

Hoa cúc:
Hoa cúc thời Lý Trần thường thể hiện với dạng dây lượn hình sin. Lúc đầu hoa cúc phổ biến ở Trung Quốc với biểu trưng Ðạo giáo, về sau ảnh hưởng vào Phật giáo như một biểu tượng bình dị, thanh cao, kín đáo và lâu bền.


H6. Trang trí hoa cúc chùa Phổ Minh

Lá đề:
Cây Bồ đề biểu trưng cho sự đại giác của đức Phật. được sử dụng rất nhiều trong trang trí điêu khắc như vòm cửa chùa tháp thời Lý.


H7. Trang trí lá đề tháp Bình Sơn - Vĩnh Phúc

Hình cá:
Tượng trưng cho sự giàu có, phồn thịnh hay gặp trong trang trí cấu kiện gỗ cùng sóng nước.


H8. Trang trí cá trên cốn gỗ

Con trâu:
Hình tượng trâu cũng xuất hiện từ thoì nguyên thuỷ trong văn hoá Hoà Bình. Và hình tượng trâu còn thấy được ở kiến trúc Phật giáo là bắt đầu từ thời Lý.
Con trâu rất có ý nghĩa trong nhà Phật, thể hiện qua bức tranh thập mục chăn trâu. Tượng tròn (chùa Phật Tích), lan can đá ( chùa Bút Tháp)



H9. Hình tượng con trâu lan can đá chùa Bút Tháp

Sư tử:
là đề tài trang trí phổ biến ở thời Lý hơn các thời sau này. Sư tử hí cầu nghĩa như vật bảo vệ giáo pháp.
Có thể gặp tượng sư tử ở chùa Hương Lãng, bệ có 2 con sư tử đỡ ở chùa Bà Tấm. Các chòm lông và đuôi sư tử thường xoắn lại theo kiểu trôn ốc hoặc xoè ra.


H10. Sư tử đá đỡ bệ tượng chùa Bà Tấm
Con hổ:
Nền văn hoá Ðông Sơn cách đây trên dưới 2500 năm đã xuất hiện rất nhiều tượng hổ. Thời Trần bắt đầu xuất hiện tượng hổ.
Theo tín ngưỡng của dân ta thì hổ tượng trưng cho vị thần bảo vệ, trấn giữ các phương chống lại mọi tà ma, đảm bảo cho cuộc sống phát triển. Bệ đá tam bảo ( chùa Ðại Bi Hà Tây), chạm khắc trên kẻ ( chùa Sơn Ðồng, Hà Tây), hai bên tam quan (chùa Long Tiên Quảng Ninh)


H11. Phù điêu hổ chùa ông Bổn - tp ****


Con ngựa: Thời Lý
Xuất hiện dưới dạng tượng tròn (chùa Phật Tích), lan can đá (chùa Bút Tháp). Theo Phật thoại, ngựa trắng khi không có người cưỡi là biểu tượng của Phật.


H12. Trang trí ngựa tường hồi chùa Hưng Ký


Nhạc công thiên thần (Gandharva)
Thời Lý - Mạc, ảnh hưởng ấn Ðộ giáo của người Chăm.
Thường gặp ở hình ảnh đoàn nhạc công tấu nhạc mừng Ðức Phật đản sinh


H13. Trang trí tại chùa Phật Tích

Nữ thần đầu người mình chim (Kinnarri)
được sử dụng trong thời Lý đến Mạc, ảnh hưởng ấn Ðộ giáo của người Chăm.
Có thể gặp ở những dạng tượng người chim chùa Phật Tích, chùa Long đọi, nữ thần đầu người mình chim.


H14. Nữ thần đầu người mình chim chạm trên cốn gỗ chùa Thái Lạc

Tiên nữ (apsara):
Thời Lý - Mạc, ảnh hưởng ấn Ðộ giáo của người Chăm.
Tiên nữ múa hát dâng hoa xuất hiện gắn liền với các sự kiện trong cuộc đời của đức Phật như đức Phật đản sinh, đắc đạo, nhập Niết Bàn... Ðiêu khắc trên cốn gỗ chùa Thái Lạc.


H15. Tiên nữ cưỡi Phượng chùa Thái Lạc

Chim thần Garuđa :
Thời Lý - Mạc. Hình tượng của ấn Ðộ giáo sử dụng trong văn hoá Chăm.
Tiêu biểu cho sức mạnh và chân lý . Thường gặp ở tư thế nâng đỡ góc đền tháp và bệ tượng.


H16. Chim thần bệ tượng chùa Bối Khê

Bánh xe pháp luân:
Sử dụng trong thời Nguyễn đến nay.
Biểu tượng sự giác ngộ của Ðức Phật và lần thuyết pháp đầu tiên của ngài. Trên mái các công trình, ví dụ như đầu đao chùa Quán Sứ.



H17. Bánh xe Pháp luân trang trí trên đầu đao viện đại học Vạn Hạnh

Hồi văn chữ Vạn, chữ công
Thường thấy trên bờ nóc mái, diềm bia, chạm trổ cửa.



H18. Chữ Vạn cách điệu cửa chùa Nành - Gia Lâm

Chữ Thọ, Hỉ
Thường sử dụng là cửa sổ , trang trí cửa đi cách điệu


H19. Cổng chùa Hưng Ký - Chữ Thọ cách điệu

Con người
Người đỡ toà sen chùa Dương Liễu thời Mạc. Vua đỡ bệ tượng Phật chùa Hoè Nhai


H20. Chạm người chùa Thái Lạc
Các mô típ trang trí thường gặp và đề tài trang trí phức hợp

Lưỡng long triều nhật (lưỡng long chầu nguyệt) ( sử dụng và phát triển từ thời Nguyễn về sau). Rồng chầu hoa cúc, hoa hướng dương đều là các dạng của lưỡng long triều nhật
ý nghĩa cầu trời mưa, hình tròn có ngọn lửa tượng trưng cho sấm sét, nguồn nước, mang đến mùa màng tươi tốt.. Hoa cúc và hoa hướng dương cũng được sử dụng tượng trưng cho mặt trời.


H21. Mô típ lưỡng long triều Nhật trên bờ nóc

Cá hoá rồng: thường gặp thời Nho học thịnh đạt, thời Nguyễn
Gợi nhớ đến sự đỗ đạt trong các kỳ thi và được Vua phong chức tước. Ðây là một minh chứng cho việc ảnh hưởng sâu sắc của trang trí đề tài Nho học vào Phật giáo.


H22. Cá hoá long bằng gốm thường gặp ở đình chùa miền Nam

Rồng hoá lá, rồng hoá cây...
Rồng thường thấy trong mô típ trang trí này là rồng hoá lá, rồng hoá cây hoặc cây hoá rồng, dây lá hoá rồng.


H23. Mô típ rồng hoá cây

Ngư long hí thuỷ
Rồng và cá chép vờn nhau trong sóng nước
Mô típ trang trí khá phổ biến trong trang trí đình chùa Bắc Bộ


H24. Trang trí trên cốn

Phúc khánh, Phúc thọ, Ngũ phúc
Hình con dơi ngậm chiếng khánh có tua có nghĩa là hạnh phúc và sung sướng. Hình con dơi kết hợp với chữ thọ biểu tượng cho sự hạnh phúc và trường thọ. Năm con dơi trên mộtbức chạm, tượng trưng cho sự chúc tụng đầy đủ nhất.


H25. Trang trí ngũ phúc trên cánh cửa
Bát bảo
gồm bầu, tháp bút, quạt vả, ống tiêu, giỏ hoa, cây kiếm, khánh, phất trần.
Là các trang trí mang tính chất Ðạo giáo, đôi lúc được sử dụng trong trang trí một số công trình chùa chịu ảnh hưởng nhiều từ Trung Quốc như chùa Hoa, chùa người gốc Hoa xây dựng...


H26. Kiếm và quạt trong trang trí chùa ông Bổn
Bát quả gồm đào, lựu, mận, lê, phật thủ, nho, bầu bí.


H27. Trang trí trên lan can chùa Vạn Niên - Tây Hồ - Hà Nội

Tứ quý gồm mai lan cúc trúc.
Thường gặp kết hợp mai điểu, mai hạc, lan điệp, cúc điệp, trúc tước, trúc yến hoặc trúc hổ.


H28. Trang trí cúc điệp trên cánh cửa

Tứ thời gồm mai, sen, cúc, tùng.
Ðồ án trang trí là mai điểu, liên áp, cúc điệp, tùng lộc hay tùnghạc. Trong trang trí chạm khắc các chi tiết kiến trúc như cửa võng, cánh cửa...


H29. Trang trí tùng hạc trên cánh cửa

Hoa sen kết hợp với hoa cúc: Thường gặp ở thời Lý
Tượng trưng cho âm dương giao hoà. Thường gặp ở trang trí diềm bia, chạm khắc trang trí trên tháp cổ.


H30. Trang trí hoa văn tháp Phổ Minh

Mây trời, sóng nước : Thời Lý, Trần
thường gặp ở trang trí hoa văn tháp cổ, bệ tượng Phật thời Lý.



H31. Sóng nước trên chân bệ tượng chùa Phật Tích

(trích phụ lục luận văn TLC)